TABA 104 B C8 Quỳnh Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội

contact@northwest.com.vn

034 738 0008 - 0983 217 438

3. Kết quả nghiên cứu

3.2.3.  Các yếu tố về giá

 Giá thành sản phẩm NSBĐ/ĐSĐP được nhóm nghiên cứu tìm hiểu trên các phương diện khác nhau: giá thành từ khâu sản xuất đến các cơ sở chế biến; giá thành đến với nhà bán lẻ; và giá bán cuối cùng đến tay người tiêu dùng. Nghiên cứu phân tích về các vấn đề mấu chốt trong cơ cấu giá thành của các NSBĐ, ĐSĐP, từ đó gợi mở ra những định hướng xây dựng giá thành phù hợp hơn cho các NSBĐ/ĐSĐP.

Người sản xuất bán NSBĐ ở dạng hàng hoá “thô” nên giá thấp so với công lao động. Các đơn vị phân phối thì cho rằng tỷ lệ lãi suất từ bán NSBĐ, ĐSĐP không cao nên chỉ bán “kèm” theo các mặt hàng khác vì khách hàng ưa thích. Trong khi, nhóm khách hàng tiêu dùng NSBĐ, ĐSĐP thì đều cho rằng mức giá hiện nay rất “dễ thở” so với chất lượng sản phẩm.

bieu do 9

Nghiên cứu cho thấy mức độ hài lòng của khách hàng đối với giá của một số NSBĐ/ĐSĐP tiêu biểu như gạo tám (Điện Biên), miến dong (Bắc Kạn), cam Cao Phong và thịt lợn Mán (Hòa Bình). Khoảng 50% khách hàng cảm thấy ‘hài lòng’ về giá và hơn 40% thấy ‘bình thường’ khi trả tiền mua sản phẩm trên. Riêng đối với sản phẩm miến dong (Bắc Kạn), số khách hàng hài lòng về giá chiếm tỉ lệ cao hơn (55,6%) so với các dòng sản phẩm gạo, quả và thịt (Bảng 10).

bang 10

 

Trong khi đó, về phía doanh nghiệp, khi được hỏi mức độ hài lòng về giá bán buôn của các NSBĐ/ĐSĐP đều cho rằng, tỷ lệ lãi của NSBĐ/ĐSĐP tương đối thấp. Nguyên nhân do không thể bán giá cao do thông tin về sản phẩm hạn chế, bán hàng số lượng ít do nguồn cung không 

nhiều và liên tục. Do vậy, doanh nghiệp chưa thể đặt ưu tiên trọng tâm trong các quyết định nhập hàng NSBĐ/ĐSĐP trên cơ cấu các sản phẩm bán lẻ của doanh nghiệp.

Các chính sách hỗ trợ phát triển NSBĐ, ĐSĐP cần tập trung vào việc nâng cao giá bán và giá trị sản phẩm cho các NSBĐ, ĐSĐP. Với các tổ nhóm, đơn vị sản xuất cần nâng cao năng lực quản lý, vận hành mô hình sản xuất, có các kỹ năng cơ bản về hạch toán chi phí, quản lý dòng tiền, tiếp cận thị trường. Họ cần thêm các cơ hội, không gian để tiếp cận thị trường rộng hơn ngoài việc trông đợi vào đội ngũ thương lái tại địa phương. Các liên kết giữa đơn vị sản xuất và công ty thương mại nhỏ và vừa trong chuỗi sẽ tạo đà để NSBĐ, ĐSĐP cải tiến toàn diện từ việc áp dụng tiêu chuẩn chất lượng trong sản xuất nhằm giữ ổn định chất lượng sản phẩm, đến việc xây dựng, thiết kế bao bì chất lượng, các kênh khuyến mãi, mở rộng thị trường phù hợp thị hiếu khách hàng mục tiêu. Khi đó, các dòng sản phẩm NSBĐ, ĐSĐP có thể ra thị trường với chất lượng, diện mạo chuyên nghiệp hơn, mức giá thành và sản lượng tăng cao hơn. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ thúc đẩy sản xuất và quảng bá sản phẩm NSBĐ, ĐSĐP gắn với các giá trị văn hoá cộng đồng, môi trường...cũng cần được thúc đẩy nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm.

 3.2.1.  Yếu tố con người

 Người sản xuất hiểu rất rõ về đặc điểm của giống, họ có thể mô tả chính xác và chi tiết về giống bản địa mà họ đang sử dụng (đặc điểm hình thái, thời gian sinh trưởng, mùa vụ gieo trồng) và  có khả năng tự nhân và để giống nên họ có thể hoàn toàn chủ động được nguồn giống mà  không bị phụ thuộc vào cung cấp giống từ bên ngoài . Tuy nhiên họ thường lưu giữ theo thói  quen và không được tập huấn và đào tạo cụ thể về kỹ thuật để giống. Ngoài ra người sản xuất ít có thói quen chăm sóc, bón phân nên năng xuất chưa cao và chất lượng chưa đồng đều. Người dân sản xuất các sản phẩm cây trồng, vật nuôi bản địa rất thiếu kỹ năng về phòng trừ dịch bệnh , dẫn đến hiệu quả chưa cao ví dụ như: Đối với chăn nuôi gà, các hộ chưa có đầu tư và áp dụng kỹ thuật nào cho chăn nuôi gà cả, do vậy, tỷ lệ gà con chết đói, rét, nóng, bệnh, gà lớn đánh … trong 3 tuần đầu khá cao (chiếm khoảng 25%). Giai đoạn từ 3 tuần đến khi đủ cân xuất bán tỷ   lệ chết bệnh khoảng 35 - 40%, như vậy tỷ lệ sống sót chỉ còn khoảng 60%. Đối với trồng trọt cũng vậy người sản xuất thường không phân biệt được các loại sâu bệnh hại trên cây trồng và thường sử dụng quá nhiều thuốc trừ cỏ và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng liều lượng

nên hiệu quả thấp và thiếu an toàn cho người sản xuất và sử dụng (một vụ lúa phun 3-4 lần thuốc trừ sâu và thuốc trừ cỏ).

 Các hộ sản xuất là người dân không tham gia vào hợp tác xã thì rất thiếu kiến thức về sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn (VietGap hoặc organic) và rất ít hộ được tham gia tập huấn về quy trình sản xuất an toàn. Việc áp dụng quy trình sản xuất theo các tiêu chuẩn an toàn là rất hạn chế. Đối với các hộ là xã viên của các hợp tác xã thì được tập huấn nhiều hơn so với các hộ phải là xã viên kể cả kỹ thuật sản xuất an toàn. Đội ngũ quản trị hợp tác xã cũng chưa thực sự mạnh (có kinh nghiệm) để hỗ trợ người dân trong việc đàm phán và tìm kiếm thị trường. Chưa có khả năng thương thảo về giá bán với các thương lái thu mua cho nên họ thường bị động và không được quyết định giá bán sản phẩm.

 

Sự kết nối giữa người sản xuất và người kinh doanh còn yếu dẫn đến người thu mua thì thiếu thông tin về vùng sản xuất sản phẩm đặc sản địa phương. Trong khi đó người sản xuất thì nông sản bản địa chưa thực sự quan tâm và chủ động tìm kiếm thị trường mới để tiêu thụ sản phẩm. Đa số các hộ chỉ biết đến các thương lái và cơ sở thu mua sản phẩm tại địa phương (cấp huyện và cấp xã) mà không biết đến các cơ sở thu mua và chế biến tại các địa phương khác.

 Trong sản xuất các sản phẩm nông sản bản địa khác nhau thì vai trò của nam và nữ trong canh tác cũng khác nhau. Ví dụ như trong sản xuất lúa đặc sản thì gần như không có sự khác biệt giữa nam và nữ trong quá trình canh tác (tất cả các công đoạn thì sự tham gia của nam và nữ như nhau, nhưng phụ nữ vẫn phải làm việc nhà nhiều hơn so với nam giới sau khi kết thúc các công việc đồng áng hàng ngày. Đây là quá trình sản xuất với các sản phẩm mà tính chất công việc không yêu cầu lao động nặng nhọc hoặc kỹ thuật cao thì phụ nữ tham gia nhiều hơn vào việc ra quyết định sản xuất. Trong chăn nôi gà bản địa cũng vậy, ví dụ như chị Đào tại Na Rì Bắc Kạn cho biết: “Khi chị đi làm công ty, chị thường xuyên xem các chương trình truyền hình về Khởi nghiệp trên VTC16, th ấy mô hình HTX nuôi gà, ch ị chủ động trao đổi với chồng để  tham gia, chị rất muốn ở gần gia đình, con cái. Tuy nhiên anh thì sợ và lo l ắng là không làm được, và không mu ốn chị nghỉ làm ở công ty. Ch ị bảo với anh: Như vậy thì đổi vai, anh đi làm công ty, còn em ở nhà chăn nuôi. Nếu anh không làm thìm ột mình em cũng làm, và em sẽ thuê người để làm, th ế là anh ph ải theo chị”. Đối với các s ản phẩm đòi hỏi nhiều công s ức lao động hoặc yếu tố kỹ thuật cao như chiết ghép để nhân gi ống cây bưởi, cam bản địa thì do nam giới

đảm nhiệm và ra quy ết định nhiều hơn kể cả trong việc quyết định sản xuất hay tiêu th ụ sản phẩm như bán dong riềng.

 Bên c ạnh đó việc nâng cao năng lực và ti ếp cận thông tin liên quan đến sản xuất, thị trường nông s ản bản địa cũng có s ự khác bi ệt giữa nam vàn ữ. Người chồng cũng là người tham dự các khóa đào tạo kỹ thuật nhiều hơn vợ nên vi ệc quyết định sản xuất như quy mô sản xuất cũng do chồng quyết định làchính. Ph ụ nữ thì ít được tham gia các khóa t ập huấn và nâng cao năng lực về cũng như không được tiếp cận thông tin v ề thị trường nên vi ệc tham gia vào quá trình ra quyết định của họ bị hạn chế.

 3.3.   Chính sách

 Cấp trung ương:

 Đối với cấp trung ương cũng có những chính sách cụ thể để hỗ trợ phát triển chuỗi sản phẩm nông nghiệp như chính sách quyết định 490 của Thủ Tướng chính phủ về chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018-2020 về phát triển các sản phẩm dịch vụ bao gồm 6 nhóm sản phẩm trong đó có nhóm sản phẩm là thực phẩm bao gồm các sản phẩm nông sản tươi sống cũng như sản phẩm chế biến. Đây là cơ hội để các địa phương phát triển các sản phẩm đặc sản bản địa thành sản phẩm hàng hóa đặc biệt là các sản phẩm bản địa và mang tính chất vùng miền của người dân tộc thiểu số. Nhà nước cũng đã ban hành các tiêu chuẩn sản xuất an toàn (Vietgap) để thúc đẩy sản xuất an toàn và tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm bản địa trên thị trường. Một số Chương trình mục tiêu quốc gia như xây dựng nông thôn mới có đề cập tới vấn đề xác định danh mục dự án phát triển sản xuất gắn với chuỗi giá trị đã bắt đầu được triển khai tại các địa phương. Theo chương trình này thì đây là cơ hội để phát triển cho các sản phẩm bản địa trong sản xuất cũng như tiêu thụ. Bên cạnh đó Luật Hợp tác xã (2012) ra đời cũng mở ra nhiều cơ hội cho các HTX phát triển sản xuất, bao gồm cơ chế hỗ trợ vay vốn. Tuy nhiên trong thực tế việc tiếp cận nguồn vốn theo chính sách này rất khó khăn do các địa phương thiếu ngân sách.

Quyết định số 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Theo đề án này thì sẽ khuyến khích áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và phát huy lợi thế sản phẩm và lợi thế vùng miền. Do vậy một số nông sản bản địa và đặc sản địa phương sẽ có cơ hội để phát triển thành vùng đặc sản và có chất lượng cao. Theo Thông tư số 21/2014-TT-BNNPTNT của Bộ

NN&PTNT hướng dẫn thực hiện Quyết định số 142/2009/QĐ-TTg về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, những hộ chăn nuôi lợn và gà sẽ được hỗ trợ bù đắp rủi ro dịch bệnh. Theo Thông tư này, hai dịch bệnh sau nếu xảy ra thì sẽ được ngân sách nhà nước bù đắp rủi ro: (1) Bệnh cúm gia cầm; (2) Bệnh tai xanh ở lợn. Như vậy các hộ dân có thể yên tâm đầu tư chăn nuôi và được hỗ trợ thiệt hại do thiên tai dịch bệnh.

Thông tư số 04/2012/TT-BTC, ngày 05 tháng 01 năm 2012 quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong công tác thú y. Thông tư này quy định cụ thể các mức thu phí về các dịch vụ có liên quan đến hộ chăn nuôi, những người kinh doanh thu gom/vận chuyển, giết mổ gia súc và gia cầm. Tuy nhiên, Thông tư này tác động trực tiếp đến những hộ chăn nuôi theo quy mô lớn/trang trại theo phương thức công nghiệp/bán công nghiệp, và những người chuyên thu gom/vận chuyển gia súc từ tỉnh này sang tỉnh khác. Những hộ thuộc diện nghèo và trung bình chăn nuôi ở quy mô nhỏ hiện có trong các xã Dự án không bị ảnh hưởng bởi Thông tư này. Theo phản ánh của những người kinh doanh thu gom và vận chuyển gà thịt, hoạt động kiểm soát và quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương nhìn chung là tạo điều kiện thuận lợi, không gây ra bất kỳ khó khăn/cản trở nào cho hoạt động kinh doanh.

Về việc sản xuất và kinh doanh thực phẩm được quản lý theo Nghị định số: 67/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 7 năm 2016. Nghị định này quy định về điều kiện sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực quản lý chuyên ngành của Bộ Y tế. Nghị định này Quy định các điều kiện chung đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Như vậy, hộ gia đình, nhóm nông dân/hợp tác xã muốn chế biến và kinh doanh các sản phẩm chuối dưới dạng thực phẩm thì phải tuân theo những quy định thuộc Thông tư này. Thông tư này quy định chi tiết các điều kiện về địa điểm, môi trường, thiết kế, xây dựng nhà xưởng, kết cấu nhà xưởng, hệ thống thông gió, hệ thống chiếu sáng, hệ thống cung cấp nước, hệ thống xử lí chất thải, nhà vệ sinh, bao, gói và bảo quản sản phẩm, thiết bị và dụng cụ đo lường. Đối với các hộ sản xuất và sơ chế ban đầu nhỏ lẻ, hoạt động sản xuất và kinh doanh được quản lý theo Thông tư số 51/2014-TT- BNNPTNT ngày 27 tháng 12 năm 2014, quy định điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm và phương thức quản lý đối với các cơ sở sản xuất ban đầu nhỏ lẻ. Thông tư này quy định về cam kết đảm bảo an toàn thực phẩm của các hộ/cơ sở sản xuất/chế biến ban đầu nhỏ lẻ và quy định cấp chứng nhận đủ điều kiện cho các hộ/cơ sở có đăng kí. Tuy nhiên Thông tư này mới ban hành nên việc phổ biến và áp dụng chưa đến tận các thôn/xã. Với thông tư này, các hộ

dân/nhóm nông dân có thể đăng kí đủ điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm cho sản phẩm của mình để có thể vươn ra thị trường thành phố.

  Đối với các địa phương:

 Các địa phương nhìn chung đã có một số chính sách và hỗ trợ phát triển các nông sản đặc sản của địa phương. Các sản phẩm được hỗ trợ thường là các sản phẩm tiềm năng phát triển kinh tế cho địa phương, có giá trị và thương hiệu bước đầu và phù hợp với điều kiện phát triển của địa phương. Gần đây nhất là Nghị quyết 29/NQ-HĐND tỉnh Hà Giang ngày 7 tháng 12 năm 2018 ban hành chính sách khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá trên địa bàn tỉnh Hà Giang trong đó đề cập đến hỗ trợ các đơn vị phát triển sản xuất một số giống bản địa như lợn gà bản địa. Cụ thể, hỗ trợ 100% lãi suất vay vốn cho các tổ chức, cá nhân mua giống lợn, gia cầm bản địa nuôi theo hướng an toàn thực phẩm. Tuy nhiên quy mô chăn nuôi đối với cá nhân và tổ chức, đối với từng giống lợn, gia cầm được hỗ trợ là khác nhau. Đây là tiền đề rất tốt để bảo tồn và phát triển các giống cây trồng vật nuôi bản địa có tiềm năng.

 Tỉnh Phú Thọ đã có một số hỗ trợ cho các đặc sản địa phương như Nếp gà gáy (xã Mỹ Lung huyện Tân Sơn), bưởi Đoan Hùng (18 xã của huyện Đoan Hùng). Ví dụ, năm 2007 Hợp tác xã Nếp gà gáy Mỹ Lung được huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ hỗ trợ tham gia dự thi sản phẩm và được tặng giải thưởng COVA. Năm 2010, huyện hỗ trợ xây dựng nhãn hiệu tập thể sản phẩm Nếp Gà gáy Mỹ Lung, được Cục sở hữu trí tuệ cấp ngày 03 /12/2010. Đối với sản phẩm bưởi Đoan Hùng, ngày 3 tháng 1 1 năm 2016 tỉnh Phú Thọ ban hành Kế hoạch số 5023/KH-UBND về phát triển cây bưởi đặc sản Đoan Hùng và bưởi diễn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020. Mục tiêu của kế hoạch là trồng mới 438 ha bưởi đặc sản Đoan Hùng, Nâng  cao giá trị thu nhập bình quân trên đơn vị diện tích đạt 300 - 400 triệu đồng/ha/năm. Bên cạnh đó sẽ phát triển và hình thành các vùng sản xuất tập trung. Mục tiêu đến năm 2020 sẽ hình thành được 63 trang trại; 05 Hợp tác xã; 250 tổ hợp tác phát triển sản xuất bưởi. Tiếp tục củng cố 02 hợp tác xã sản xuất và kinh doanh bưởi tại xã Bằng Luân và Chí Đám đã hình thành. Tại các huyện trọng điểm trồng bưởi, xây dựng ít nhất 02 mô hình về ứng dụng tiến bộ kỹ thuật mới; liên kết sản xuất tiêu thụ sản phẩm gắn với phát triển thương hiệu, nhãn hiệu đối với sản phẩm bưởi quả. Kế hoạch cũng đưa ra các giải pháp về giống, kỹ thuật và phát triển thương hiệu. Tháng 2/2016 được tỉnh Phú Thọ và huyện Đoan Hùng hỗ trợ việc xây dựng nhãn hiệu hai giống bưởi Sửu Chí đám và bưởi Bằng Luân, Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ KH&CN cấp văn

bằng bảo hộ chỉ dẫn địa lý, và từ đó hai sản phẩm bưởi Sửu và bưởi Bằng Luân được công nhận là tài sản quốc gia, được Nhà nước bảo hộ vô thời hạn trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Sở KH&CN Phú Thọ cũng đã đăng ký tem nhãn và lô gô với Cục Sở hữu trí tuệ.

Tỉnh Yên Bái có nhiều sản phẩm nông sản bản địa và đặc sản địa phương có tiềm năng phát triển kinh tế nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số và phụ nữ. Một số nông sản của tỉnh Yên Bái được người tiêu dùng quan tâm nhiều như Nếp Tú lệ, Bưởi Đại Minh, Cam Văn Chấn, Gạo Séng cù. Tỉnh cũng đã có một số chủ trương, chính sách và những hỗ trợ phát triển cụ thể. Năm 2014, Trung tâm Giống cây trồng, Vật nuôi thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã thực hiện Đề tài "Chọn lọc, bảo tồn, phát triển giống lúa nếp Tú Lệ tại xã Tú Lệ huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái”. Hiện nay, huyện Văn Chấn đã hỗ trợ 100% giống lúa nếp cho 620 hộ dân trong xã Tú Lệ theo Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp của huyện Văn Chấn. Đồng thời, cán bộ khuyến nông xã hướng dẫn kỹ thuật, và phát tờ rơi hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân theo Đề án bảo tồn nếp Tú Lệ của xã Tú Lệ. Ngoài ra tỉnh Yên Bái cũng ban hành Quyết định số 115/QĐ – UBND phê duyệt Đề án Phát triển cây ăn quả tỉnh Yên Bái, giai đoạn 2016 – 2020. Mục tiêu là khôi phục và bảo tồn giống cam sành đặc sản địa phương trong đó các sản phẩm bản địa đặc trưng như bưởi Đại Minh, Cam Văn Chấn… Huyện Văn Yên đã đặc biệt chú trọng xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu quế bằng việc xác lập quyền chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm quế tập trung vào các xã vùng cao nhằm bảo tồn nguồn gen có quý.

Tỉnh Bắc Kạn có nhiều nông sản bản địa và đặc sản địa phương như Miến dong, nếp Khẩu nua lếch, tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 11/2015/NQ-HĐND ngày 03/4/2015 về việc “quy định một số chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông, lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn”. cụ thể, tỉnh Bắc Kạn khuyến khích, hỗ trợ đầu tư cơ sở chăn nuôi gia súc (lợn, dê thịt); trồng cây dược liệu, rau, củ, quả; đầu tư cơ sở chế biến nông sản (chế biến bột dong riềng, miến dong, chè, cam ép). Hỗ trợ 60% chi phí nhưng không quá 2 tỷ đồng/dự án đối với các cơ sở chế biến dong riềng, miến dong. Bên cạnh đó, tỉnh ban hành Nghị quyết số 04- NQ/TW ngày 26 -4-2016 về “phát triển nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, tạo ra sản phẩm có thương hiệu, sức cạnh tranh trên thị trường giai đoạn 2016 – 2020”. Tập trung phát triển 1.000 ha lúa Khẩu nua lếch, bao thai Chợ Đồn… thâm canh 1.500 ha cam, quýt và 500 ha hồng không hạt. Đối với phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp (cam quýt, hồng không hạt, mơ, chè), hỗ trợ tập huấn kỹ thuật và tổ chức thành lập các nhóm hộ, tổ hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; hỗ trợ kinh phí xây dựng mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào

sản xuất, đầu tư thâm canh, cải tạo, trồng bổ sung diện tích ăn quả già cỗi để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm tại các huyện Bạch Thông, Chợ Đồn, Ba Bể, thành phố Bắc Kạn.

Tỉnh Hoà Bình có các chính sách hỗ trợ và phát triển nhiều sản phẩm như cam Cao phong, bưởi đỏ Tân Lạc như trung quy hoạch vùng cam, chuyển giao các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất. Sẽ thực hiện đồng bộ từ khâu giống, quy trình chăm sóc, quy trình bón phân, kỹ thuật bảo vệ thực vật, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng sản xuất nhằm nâng cao sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, cung cấp sản phẩm sạch, an toàn cho người tiêu dung. Huyện Tân Lạc, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Tân Lạc (khoá XXII) đã ban hành Nghị quyết phát triển sản xuất Bưởi đỏ. Cụ thể, tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về giá trị của các đặc sản địa phương đã được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ; xây dựng kế hoạch dài hạn trong việc xây dựng, quản lý và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm đặc sản của tỉnh; đẩy mạnh hoạt động liên kết sản xuất, phát triển giá trị sản phẩm hàng hóa theo chuỗi; hỗ trợ đưa các sản phẩm có thế mạnh vào hệ thống kinh doanh lớn, siêu thị với các chính sách nâng cao chất lượng và sử dụng hiệu quả hệ thống nhận diện thương hiệu, mẫu mã, bao bì sản phẩm...

Tỉnh Điện Biên, Hội nông dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 322/2013/NQ-HĐND ngày 13 tháng 12 năm 2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh Điện Biên về chính sách hỗ trợ sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh Điện Biên; Việc Xây dựng chỉ dẫn địa lý “Điện Biên” cho sản phẩm gạo của tỉnh Điện Biên là cơ sở khoa học và thực tiến làm tăng giá trị và bảo vệ thương hiệu cho nông sản gạo trên thị trường trong và ngoài nước. Đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phát triển bền vững kinh tế - xã hội cho người dân đồng bào các dân tộc vùng lòng chảo Điện Biên nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Cùng với đó, tỉnh cần xúc tiến huy động các doanh nghiệp địa phương, kết hợp với nông dân, các cơ sở chế biến trong việc phát triển, khai thác chỉ dẫn địa lý, khuyến khích sự liên kết giữa các thành phần trong ngành hàng.

Nhìn chung, hiện nay các chính sách cấp trung ương và địa phương tập trung chủ yếu vào hỗ trợ phát triển sản xuất, ít chú trọng đến kết nối thị trường cho các sản phẩm. Việc dự báo cung cấp thông tin thị trường nông sản rất hạn chế. Bên cạnh đó sự liên kết phối hợp giữa các ngành như Nông nghiệp (qui hoạch sản xuất), Khoa học công nghệ (xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý) và Công thương (xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm) cũng chưa tốt làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh các nông đặc sản vùng miền.

 

2.  Kết luận và kiến nghị

2.1.   Kết luận

  • NSBĐ/ĐSĐP là niềm tự hào; là văn hóa và tiếng nói của người dân địa phương do đó cần bảo tồn và phát triển nhằm mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội và bảo tồn nguồn gen quý.
  • Thị trường cho NSBĐ/ĐSĐP rất có tiềm năng trong khi đó năng lực sản xuất hiện tại chưa đáp ứng được nhu cầu. Nhiều sản phẩm chất lượng còn thấp do canh tác sản xuất lạc hậu.
  • Các chương trình hỗ trợ phát triển cần hướng phát triển các sản phẩm này theo hướng liên kết chuỗi giá trị, tạo ra giá trị gia tăng cao nhằm khai thác hiệu quả các chính sách tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng gia tăng giá trị.
    • Nên k ết hợp tri thức bản địa và ứng dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao năng suất và chất lượng, giá trị cho NSBĐ/ĐSĐP góp phần gia tăng giá trị cho nông sản.
    • Người sản xuất thiếu thông tin về thị trường trong khi các doanh nghiệp thiếu thông tin về sản xuất dẫn đến việc sản xuất và kinh doanh chưa hiệu quả. Nên hỗ trợ xây dựng các liên kết theo chuỗi (giữa đơn vị sản xuất, đơn vị thương mại, đơn vị phân phối) và có các chính sách hỗ trợ đặc thù cho các liên kết chuỗi này có chỗ đứng trên thị trường.
    • Phụ nữ đóng vai trò chính trong sản xuất các nông sản bản địa và đặc sản địa phương. Tuy nhiên, phụ nữ thiếu thông tin về thị trường và năng lực đàm phán, kết nối thị trường.
    • Chưa có chính sách hỗ trợ các NSBĐ và ĐSĐP theo hướng gia tăng giá trị sản phẩm mặc dù nhà nước đã có đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Việc tiếp cận vốn của các HTX cũng rất hạn chế.
    • Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin thị trường cho người sản xuất, nâng cao khả năng tiếp cận thị trường đối với nông sản bản địa đóng vai trò quan trọng trong phát triển NSBĐ và ĐSĐP.
    • Quy hoạch các vùng sản xuất NSBĐ/ĐSĐP ưu tiên theo giá trị và chất lượng sản phẩm, hơn là số lượng.
    • Định hướng nhằm phát huy nội lực cộng đồng trong bảo tồn, phát triển, huy động nguồn lực nôi tại và hưởng lợi từ sản phẩm lợi thế…
      • Hỗ trợ địa phương bảo hộ sở hữu trí tuệ và thực thi việc bảo hộ trí tuệ (nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý,..)
      • Hướng dẫn phát triển mô hình HTX, nâng cao năng lực quản trị để vận hành HTX hiệu quả.
      • Chính sách hỗ trợ vốn tăng tính chủ động cho người dân thay vì cấp phát các vật tư cụ thể.
        • Nâng cao năng lực cho người sản xuất và tổ nhóm, HTX sản xuất từ quy trình tiêu chuẩn đến phát triển sản phẩm.
        • Có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, HTX để quảng bá, giới thiệu các sản phẩm bản địa và đặc sản địa phương tiếp cận với thị trường ví dụ như (chính sách vay vốn cho HTX, chính sách tham gia hội chợ nông sản…).
        • Xác định khách hàng mục tiêu để có chiến lược kinh doanh và quảng bá sản phẩm phù hợp.
        • Thực hiện định giá sản phẩm dựa trên chi phí và tạo thương hiệu dựa trên giá trị nhân văn và triết lý của sản phẩm.
          • Chú trọng thiết kế bao bì sản phẩm và các thông tin trên sản phẩm nêu rõ về nguồn gốc và lịch sử giống.
          • Tiếp cận thị trường qua kênh trọng điểm là siêu thị và cửa hàng thực phẩm sạch, phát huy kênh bán hàng tiềm năng qua mạng.

2.2.   Kiến nghị Chính sách sản xuất

  • Quy hoạch các vùng sản xuất NSBĐ/ĐSĐP ưu tiên theo giá trị và chất lượng sản phẩm, hơn là số lượng.
  • Định hướng nhằm phát huy nội lực cộng đồng trong bảo tồn, phát triển, huy động nguồn lực nôi tại và hưởng lợi từ sản phẩm lợi thế…
    • Hỗ trợ địa phương bảo hộ sở hữu trí tuệ và thực thi việc bảo hộ trí tuệ (nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý,..)
  • Hướng dẫn phát triển mô hình HTX, nâng cao năng lực quản trị để vận hành HTX hiệu quả.
  • Chính sách hỗ trợ vốn tăng tính chủ động cho người dân thay vì cấp phát các vật tư cụ thể.

 

Khuyến nghị về thị trường

  • Nâng cao năng lực cho người sản xuất và tổ nhóm, HTX sản xuất từ quy trình tiêu chuẩn đến phát triển sản phẩm.
  • Có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, HTX để quảng bá, giới thiệu các sản phẩm bản địa và đặc sản địa phương tiếp cận với thị trường ví dụ như (chính sách vay vốn cho HTX, chính sách tham gia hội chợ nông sản…).
  • Xác định khách hàng mục tiêu để có chiến lược kinh doanh và quảng bá sản phẩm phù hợp.
  • Thực hiện định giá sản phẩm dựa trên chi phí và tạo thương hiệu dựa trên giá trị nhân văn và triết lý của sản phẩm.
    • Chú trọng thiết kế bao bì sản phẩm và các thông tin trên sản phẩm nêu rõ về nguồn gốc và lịch sử giống.
    • Tiếp cận thị trường qua kênh trọng điểm là siêu thị và cửa hàng thực phẩm sạch, phát huy kênh bán hàng tiềm năng qua mạng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

  1. Báo cáo phân tích chuỗi giá trị nông sản địa phương tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai  Châu – Plan 2018
  2. Báo cáo tình hình sản xuất cây ăn quả có múi của FAO 2012
  3. Báo cáo KTXH tỉnh Điện Biên 2015
  4. Báo cáo KTXH tỉnh Bắc Kạn 2010
  5. Báo cáo KTXH tỉnh Bắc Kạn 2016
  6. Báo cáo phát triển nông nghiệp huyện Ngân Sơn tỉnh BK
  7. Báo cáo KTXH tỉnh Hòa Bình
  8. Báo cáo KTXH tỉnh Yên Bái
  9. Báo cáo Niên Giám thống kê tỉnh Yên Bái
  10. Báo cáo KTXH tỉnh Phú Thọ 2016
  11. Báo cáo phát triển nông nghiệp huyện đoan hùng phú thọ 2017
  12. Báo cáo nghiên cứu kiến thức bản địa của người dân tộc thiểu số - ADC, CARE 2014
  13. Báo cáo vệ sinh an toàn thực phẩm tại việt nam – Worldbank 2017
  14. Báo cáo của cục trồng trọt năm 2017
  15. Báo cáo nghiên cứu của OECD, 2015
  16. Báo cáo của bộ nông nghiệp phát triển nông thôn 2011
  17. Báo sài gòn giải phóng tháng 8/2018
  18. Chuỗi giá trị - Fao 2015Kế hoạch số 5023/KH-UBND về phát triển cây bưởi đặc sản Đoan Hùng và bưởi diễn trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016-2020 - tỉnh Phú Thọ
  19. Mô hình tích hợp kinh doanh – FAO 2015 (inclusive business model)
  20. Nghị quyết số 322/2013/NQ-HĐND ngày 13 tháng 12 năm 2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh Điện Biên
  21. Nguyên lýmarketing - Philip Kotler, 2012
  22. Nghị quyết số 11/2015/NQ-HĐND ngày 03/4/2015 UBND tỉnh Bắc Kạn 
  23. Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn 2016
  24. Nâng cao chuỗi giá trị Cam Văn Chấn – Phan Đăng Thắng, tổ chức bánh mì thế giới
  25. Thông tư số 21/2014-TT-BNNPTNT của Bộ NN&PTNT
  26. Thời báo thương gia tháng 11/2018
  27. Sản xuất thịt các loại toàn cầu 2016 - FAO Food Outlook tháng 6/2016
  28. Phát triển thương hiệu đặc sản địa phương – Lưu Đức Thanh 2018
  29. Ngoài ra báo cáo còn tham khảo một số nguồn số liệu khác từ tổng cục thống kê và niên giám thống kê của các tỉnh, địa bàn nghiên cứu

 

 

Tin bài liên quan