TABA 104 B C8 Quỳnh Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội

contact@northwest.com.vn

034 738 0008 - 0983 217 438

1.  Đặt vấn đề

 1.1.   Giới thiệu chung về nghiên c ứu

 Nông sản bản địa, đặc sản địa phương (NSBĐ, ĐSĐP) đang thu hút sự quan tâm ngày càng lớn của người tiêu dùng và do đó mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho vùng dân tộc thiểu số. Người tiêu dùng ngày càng chú trọng tới vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nên có xu hướng chọn nông sản an toàn. Hiện nay, đang có 4 xu hướng lựa chọn thực phẩm phổ biến đó là: Tự nhiên, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và bao bì thông minh. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Quản lý Nguy cơ an toàn thực phẩm (ATTP) tại Việt Nam (Worldbank 2017), người dân ngày càng tăng mối quan tâm và nỗi lo về ATTP bởi số các vụ việc vi phạm ATTP xảy ra ngày càng nghiêm trọng. Người dân có xu thế dùng sản phẩm nông nghiệp an toàn ngày càng tăng. Vì vậy, dòng sản phẩm nông sản nào đảm bảo ATTP sẽ có khả năng trụ vững trên  thị trường. Nếu không, khi các hiệp định thương mại mới ra đời, việc kinh doanh sản phẩm nông nghiệp trên thị trường quốc tế sẽ trở nên cạnh tranh hơn (Worldbank 2017). Công ty Nielsen ước tính, giá trị tổng thị trường hữu cơ tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là khoảng 400 tỷ đồng/năm. Theo kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu và Phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam, từ năm 2008, Việt Nam đã có trên 40 mặt hàng đạt tiêu chí  chỉ dẫn địa lý quốc gia, 750 mặt hàng đặc sản khác nhau đã đem lại thu nhập, việc làm cho hơn 10 triệu lao động (Viện Nghiên cứu và Phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam, 2008).

Trên thế giới không có khái niệm đồng nhất về các sản phẩm đặc sản. Giới chuyên môn và các nhà nghiên cứu sử dụng các thuật ngữ khác nhau để nói về các đặc sản bản địa: sản phẩm địa phương, sản phẩm nguồn gốc xuất xứ, đặc sản (Lưu Đức Thanh, 2018). Trong nghiên cứu này, các nông sản bản địa là các loại sản phẩm nông nghiệp của cộng đồng tồn tại lâu đời tại địa phương, được các cộng đồng duy trì phát triển và bảo tồn trên các trang trại và không phải sản phẩm tạo giống từ các trường đại học hay viện nghiên cứu ví du gạo nếp Tú lệ, Khẩu nua lếch. Đặc sản địa phương là những sản phẩm có uy tín, chất lượng gắn với tên của vùng miền hay địa phương nào đó. Một số nông sản bản địa là đặc sản địa phương như Bưởi Đại Minh (Yên Bái), Bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), Gà Lạc thuỷ (Hoà Bình). Một số đặc sản địa phương là nông sản bản địa như Nếp Tú lệ, Khẩu nua lếch nhưng một số đặc sản có thể không phải là nông sản bản địa mà là giống thuần, đã thích nghi với địa phương, có chất lượng tốt và có uy tín như gạo Séng cù, gạo tám Điện Biên.

Tại khu vực miền núi phía Bắc, nơi sinh sống của 30 nhóm dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc đều có các đặc trưng riêng về đời sống văn hóa tạo nên sự đa dạng về văn hóa, sinh kế của phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp, trong đó có nông sản bản địa. Hiện nay chính phủ đang có nhiều chương trình chính sách hỗ trợ người dân tộc thiểu số phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên một trong những lợi thế quan trọng của khu vực miền núi là các NSBĐ và ĐSĐP vẫn chưa được khai thác hiệu quả do nhiều nguyên nhân trong đó người sản xuất, người tiêu dung và doanh nghiệp thiếu thông tin về thị trường, vùng nguyên liệu và hành vi người tiêu dùng (Bộ NN& PTNT, 2011). Để hỗ trợ các chương trình này thực hiện một cách hiệu quả hơn nữa thì việc cung cấp thông tin từ các nghiên cứu đánh giá là rất quan trọng (OECD, 2015). Trên cơ sở đó, NorthNet thực hiện nghiên cứu về tiềm năng phát triển NSBĐ và ĐSĐP khu vực miền núi phía Bắc là rất cần thiết trong khuôn khổ dự án I2I do EU tài trợ dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam.

 1.2.   Mục đích nghiên cứu

 -          Cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý, tổ chức phát triển, chính quyền địa phương, người sản xuất, nhà hoạch định chính sách về vai trò, tiềm năng, hạn chế và giải pháp phát triển nông sản bản địa nhằm cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số.

-          Cung cấp thông tin dữ liệu cho các tổ chức thành viên mạng lưới NorthNet và các doanh nghiệp xã hội kinh doanh nông nghiệp làm cơ sở cho lập kế hoạch phát triển tổ chức

-          Thúc đẩy mô hình phát triển kinh tế dựa vào tri thức bản địa và bảo tồn nguồn gen trên trang trại

 1.3.   Mục tiêu nghiên c ứu

-          Xác định nhu cầu của người tiêu dùng vàphân tích thị trường nông sản bản địa và đặc sản địa phương.

-          Phân tích hiện trạng sản xuất nông s ản bản địa và đặc sản địa phương tại các vùng s ản xuất.

-          Phân tích những thuân lợi và hạn chế về chính sách hỗ trợ của nhà nước và địa phương trong phát triển các nông sản bản địa hiện nay

-          Đề xuất được các giải pháp và mô hình phát triển các nông sản bản địa trở thành sinh kế cho người phụ nữ DTTS

2.  Phương pháp Nghiên c ứu

2.1.   Đối tượng và địa bàn nghiên c ứu

2.1.1.  Địa bàn nghiên c ứu:

Nghiên cứu được thực hiện tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc bao gồm Bắc Kạn, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình và Điện Biên, trong đó, mỗi sản phẩm được khảo sát thực trạng sản xuất tại 2 xã và khảo sát thị trường tiêu thụ địa phương tại trung tâm huyện và thành phố của tỉnh đó. Những tỉnh thành này được chọn để thực hiện khảo sát bởi đây là những tỉnh có số lượng và sản lượng các sản phẩm khảo sát nhiều hoặc có điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển sản phẩm. Ngoài ra, thành phố Hà Nội, không phải nơi sản xuất các sản phẩm NSBĐ và ĐSĐP nhưng Hà Nội là thị trường tiêu thụ lớn các sản phẩm này nên đựơc lựa chọn để đánh giá nhu cầu tiêu dùng và phân tích hiện trạng thị trường sản phẩm. Việc lựa chọn xã được quyết  định bởi  sự tham vấn  với các thành viên mạng lưới NorthNet, chính quyền địa phương, cán bộ CARE.

2.1.2.  Đối tượng nghiên c ứu

Nghiên cứu được tiến hành và thu thập thông tin từ nhiều nhóm đối tượng khác nhau để có cái nhìn tổng thể về thực trạng sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ nông sản bản địa và đặc sản địa phương. Căn cứ vào mục tiêu và nội dung nghiên cứu, các đối tượng tham gia được lựa chọn có chủ đích để thực hiện khảo sát và thu thập thông tin. Đối tượng phỏng vấn và khảo sát thị trường bao gồm có người tiêu dùng, người kinh doanh tại Hà nội, tỉnh Yên Bái và Bắc Kạn. Đối tượng phỏng vấn về chính sách bao gồm các nhà lập sách là người quản lý, lãnh đạo tại một số huyện và sở ban ngành như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Kạn, Yên Bái, Hoà Bình, Điện Biên và Phú Thọ. Đối tượng phỏng vấn về hiện trạng sản xuất bao gồm có nông dân, các hợp tác xã và tổ hợp tác tại các tỉnh thực hiện nghiên cứu.

-                     Người dân trực tiếp sản xuất nông sản bản địa bao gồm các hộ sản xuất quy mô lớn, nhỏ và trung bình (có cả nam và nữ). Các hộ được lựa chọn dựa trên sự tham vấn của địa phương.

-                     Hợp tác xã: Đại diện lãnh đạo của các hợp tác xã sản xuất nông sản bản địa và các đại diện xã viên của hợp tác xã.

 -                     Lãnh đạo địa phương và cán bộ các cơ quan chuyên môn là người có hiểu biết về chính sách cũng như các thông tin liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và thị trường.

 -                     Chủ doanh nghiệp, cửa hàng, siêu thị, và thương lái là những người đang kinh doanh, chế biến các sản phẩm từ nông sản bản địa.

 -                     Khách hàng tiêu thụ nông sản bản địa: Là những người từng mua các mặt hàng nông sản bản địa, những thành viên này được lựa chọn ngẫu nhiên và phỏng vấn khi họ tời mua hàng tại các cửa hàng kinh doanh đặc sản địa phương.

 2.1.3.  Các nông sản nghiên cứu

 Các nông sản bản địa và đặc sản địa phương trong nghiên cứu này bao gồm: Miến dong (Dong diềng), Gà ri (Bắc Kạn), Bưởi Đoan Hùng, Nếp gà gáy (Phú Thọ), Bưởi Đại Minh, Cam Văn Chấn, Gạo Séng cù (Yên Bái), Bưởi đỏ Tân lạc (Hoà Bình), Gạo Tám thơm (Điện Biên). Việc lựa chọn các sản phẩm liên quan đến địa bàn nghiên cứu để huy động sự tham gia của các thành viên mạng lưới NorthNet. Đây là những NSBĐ và ĐSĐP chủ yếu tại các tỉnh thực hiện nghiên cứu, có diện tích và sản lượng có thể sản xuất hàng hoá. Việc lựa chọn dựa trên thu thập thông tin cơ bản về sản phẩm và tham vấn với các tổ chức thành viên NorthNet.

 2.2.   Nội dung nghiên c ứu và các ch ỉ tiêu thu th ập thông tin

2.2.1.    Phân tích hiện trạng sản xuất các NSBĐ và ĐSĐP

Các thông tin thu thập bao gồm diện tích, năng suất, sản lượng, tiềm năng, cơ hội, thách thức của sản xuất.

2.2.2.  Phân tích các chính sách hỗ trợ sản xuất các NSBĐ và ĐSĐP

Các thông tin thu thập bao gồm chính sách hỗ trợ phát triển nông sản bản địa và đặc sản địa phương, các tồn tại và hạn chế của chính sách.

2.2.3.  Phân tích tiềm năng thị trường đối với các NSBĐ và ĐSĐP

Các thông tin thu thập bao gồm mức độ tiêu thụ của sản phẩm, đánh giá của khách hàng, giá bán.

2.3.   Cách tiếp cận và các kỹ thuật thu thập thông tin

Đối với các thông tin thứ cấp, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập và nghiên cứu các tài liệu liên quan bao gồm:

-          Báo cáo nghiên cứu về các sản phẩm bản địa của ADC, các thành viên mạng lưới NORTHNET và các tổ chức khác.

-          Báo cáo phân tích chuỗi giá trị nông sản; Báo cáo kinh tế xã hội của các tỉnh trong địa bàn nghiên cứu và các vùng dự án của các tổ chức thành viên mạng lưới NORTHNET thông qua mạng lưới NORTHNET.

-          Sử dụng công cụ tìm kiếm Google với các từ khóa “ngành hàng nông sản bản địa”, “chuỗi giá trị sản phẩm bản địa”, “đặc sản địa phương” và tổng hợp thông tin từ các trang web của Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng Cục Thống kê, Ủy Ban Dân tộc…

Đối với các thông tin sơ cấp: phương pháp tiếp cận có sự tham gia được áp dụng để thu thập thông tin đối với các nhóm đối tượng khác nhau. Kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được thực hiện với người sản xuất, cán bộ lãnh đạo địa phương và các cơ quan chuyên m ôn cũng như hợp tác xã và doanh nghiệp. Kỹ thuật phỏng vấn bảng hỏi bán cấu trúc được thực hiện với người tiêu dùng, khách hàng tiêu thụ nông sản bản địa và đặc sản địa phương.

-          Bộ câu hỏi nghiên cứu thị trường được xây dựng dựa trên lý thuyết 4Ps, bao gồm các yếu tố: Sản phẩm (Product), Giá ( Price), điểm bán (Place); Quảng cáo, tiếp thị (Promotion) (Philip Kotler) [2]. Ngoài ra, chúng tôi cũng đưa thêm P thứ 5 - con người (People) vào bộ câu hỏi nhằm khai thác sâu hơn các yếu tố về nhân sự của các doanh nghiệp khi triển khai sản xuất, kinh doanh NSBĐ.

 2.4.   Nhóm nghiên cứu

 Nghiên cứu huy động sự tham gia của các thành viên mạng lưới NorthNet trong hỗ trợ, thực hiện thu thập thông tin sơ cấp và thứ cấp. Các thành viên mạng lưới Northnet, là những người đang làm việc trong các tổ chức thành viên của mạng lưới và có kinh nghiệm cũng như am hiểu về các công cụ điều tra cũng như am hiểu về cộng đồng. Họ trực tiếp tham gia vào thực hiện nghiên cứu và hỗ trợ nhóm nghiên cứu thu thập thông tin tại thực địa. Tổng số 18 cán bộ của các tổ chức NorthNet đã tham gia vào nghiên cứu này. Nhóm nghiên cứu chính là cán bộ trung

tâm Nghiên cứu phát triển nông lâm nghiệp miền núi (ADC) và Trung tâm Hợp tác và phát triển Tây bắc xây dựng đề cương và bộ câu hỏi nghiên cứu với sự tham gia tư vấn của cán bộ Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam. Các cán bộ nghiên cứu của các tổ chức thành viên mạng lưới NorthNet được tập huấn về công cụ nghiên cứu trước khi thực hiện thu thập thông tin.

 2.5.   Quy trình thực địa

 2.5.1.  Phân tích thực trạng sản xuất

 Tại mỗi địa bàn nghiên cứu, thực hiện một cuộc thảo luận với nhóm hộ sản xuất các sản phẩm được lựa chọn với sự tham gia của khoảng 9 nam/nữ nông dân mục tiêu (3 nông dân sản xuất ở quy mô lớn, 3 nông dân sản xuất ở quy mô vừa và 3 nông dân sản xuất ở quy mô nhỏ), một cuộc thảo luận nhóm các xã viên HTX sản xuất với 6 xã viên bao gồm cả nam và nữ. Tại mỗi xã, Nhóm nghiên cứu đã đi thăm hộ và PVS ba hộ sản xuất (quy mô lớn, vừa và nhỏ). Việc lựa chọn đối tượng và nông dân tham gia thảo luận nhóm và PVS do cán bộ xã tham gia nhóm nghiên cứu thực hiện dựa trên quan sát và kinh nghiệm của riêng họ đảm bảo có được người sản xuất ở những quy mô khác nhau và có đại diện hộ nghèo, hộ DTTS, cả nam giới và phụ nữ. Bên cạnh đó nhóm nghiên cứu cũng thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với nhóm cán bộ, lãnh đạo địa phương bao gồm cả trưởng thôn để có cái nhìn tổng thể hơn về mặt sản xuất, tiêu thụ cũng như chính sách phát triển sản phẩm đặc sản bản địa tại địa phương.

Bảng 1

2.5.1.  Phân tích chínhsách   

 Phân tích chính sách được thực hiện với các cán bộ quản lý, lãnh đạo ngành như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Phòng Nông nghiệp, Trung tâm khuyên nông, Phòng kinh tế, Uỷ ban nhân dân huyện tại các tỉnh thực hiện nghiên cứu. Mục

tiêu là tìm hiểu về các chính sách hỗ trợ phát triển NSBĐ và ĐSĐP, các tồn tại hạn chế và các đề xuất.

 2.5.2.  Phân tích thị trường

 Có 315 phiếu khảo sát được thực hiện với người tiêu dùng tại thành phố Hà Nội, 2 tỉnh Yên Bái, Bắc Kan.

 Mục đích của việc khảo sát t ại các ch ợ trung tâm huy ện và t ỉnh là nh ằm thu thập và phân tích thông tin c ủa các tác nhân kinh doanh liên quan trong chu ỗi như: nhà cung cấp đầu vào (gi ống, phân bón, BVTV) cho s ản xuất, nhà thu mua và kinh doanh các s ản phẩm khảo  sát  (thu mua/bán buôn/bán l ẻ, chế biến các s ản phẩm chuối, bán l ẻ các s ản phẩm được lựa chọn nghiên cứu), các cơ quan quản lý nhà nước và cung c ấp dịch vụ công (NN&PTNT, Khuy ến nông). Việc lựa chọn địa điểm và đối tượng khảo sát c ụ thể dựa trên thông tin thu th ập được từ khảo  sát t ại các xã (nh ững tác nhân có ho ạt động hợp tác, kinh doanh, mua bán v ới người nông dân, thu gom ở xã/huy ện), dựa trên vai trò và nhi ệm vụ có liên quan (cơ quan nhà nước), dựa trên quan sát vàkinh nghi ệm của các thành viên nghiên cứu.

 Người tiêu dùng bất kỳ được hỏi các câu hỏi sàng lọc về một số nông sản bản địa mà họ từng nghe hoặc mua. Điều tra viên chỉ tiếp tục phỏng vấn khách hàng bộ câu hỏi chi tiết nếu họ từng mua ít nhất một sản phẩm nông sản bản địa, đặc sản trong 12 tháng gần đây (tính từ tháng 7/2017- 7/2018). Mức thời gian 12 tháng đảm bảo tất cả các sản phẩm NSBĐ và ĐSBĐ được nêu đều được bán ra trên thị trường vào tất cả các mùa vụ trong một năm. Có 349 người tham gia trả lời phiếu sàng lọc, trong đó khảo sát nhu cầu được thực hiện với tổng số 315 người đạt tiêu chí nói trên. Chia theo địa bàn, tại 6 quận khu vực Hà Nội có 265 đáp viên (chiếm 84,1%) và 2 tỉnh Yên Bái & Bắc Kạn có 49 người (chiếm 15,9%). Tỉ lệ người trả lời chia theo địa điểm bán NSBĐ tương đối đồng đều: 32,9% người tiêu dùng được hỏi tại siêu thị, 26,3% tại cửa hàng thực phẩm an toàn dạng chuỗi như Bác Tôm & EFarm, 31,3% tại các cửa hàng lẻ và 9,5% còn lại tham gia trả lời khi đang đi chợ (Bảng 2).

 

  • Phương pháp phỏng vấn sâu và quan sát tại điểm bán thực phẩm, nông sản.

 Nghiên cứu đã thực hiện 11 cuộc phỏng vấn sâu với đối tượng là đại diện các chủ doanh nghiệp, người quản lý tại các siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch, công ty phân phối, trong đó bao gồm 4 cuộc phỏng vấn sâu tại Hà Nội, 2 cuộc tại Bắc Kạn, 5 cuộc tại Yên Bái. Các phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm tìm hiểu rõ hơn nhu cầu, mong đợi từ các doanh nghiệp đang tham gia  vào các hoạt động phân phối, bán lẻ sản phẩm NSBĐ ra thị trường cấp tỉnh và cấp quốc gia.

 Hoạt động quan sát về hành vi người tiêu dùng và sự hiện diện của các NSBĐ tại các điểm bán (ví dụ vị trí bầy bán, bao bì nhãn mác có đủ thông tin và hấp dẫn, các hoạt động quảng cáo và khuyến mại...) được các Quan sát viên là những người có kiến thức và kinh nghiệm về marketing thực hiện trên 7 điểm bán hàng (6 điểm tại Hà Nội, 1 điểm tại Bắc Kạn, 2 điểm tại Yên Bái). Cách thức quan sát cụ thể như sau:

 -   Tại Cửa hàng th ực phẩm sạch: Quan sát viên th ực hiện nhiệm vụ ghi chép t ỉ mỉ, chính xác nh ững diễn biến mua – bán của người tiêu dùng t ại cửa hàng đó trong 1 ngày.

-   Tại siêu thị: Tiến hành ho ạt động quan sát, ghi chép đối chiếu số lượng  đơn hàng có  tiêu dùng các nông s ản bản địa tại 1 quầy thu ngân được định sẵn.

-   Tiến hành ho ạt động so sánh, đối chiếu đánh giá về sự hiện diện của sản phẩm NSBĐ trong tổng thể gian hàng theo b ảng hướng dẫn phía dưới.

 Danh sách 7 cửa hàng đã được quan sát bao gồm:

 Bảng 3

3.  Kết quả nghiên c ứu

 3.1.   Thị trường tiêu th ụ nông s ản bản địa

Các phân tích v ề xu hướng tiêu dùng th ực phẩm hữu cơ, thực phẩm an toàn, th ực phẩm có g ắn nhãn b ảo vệ môi trường vàcác k ết quả nghiên c ứu về mối quan tâm đối với NSBĐ, ĐSĐP của người tiêu dùng cho th ấy tiềm năng chinh phục thị trường tiêu dùng trong nước của NSBĐ, ĐSĐP.

 3.1.1.  Xu hướng tiêu dùng thực phẩm tại Việt Nam

 Theo đánh giá của một số công ty nghiên cứu thị trường uy tín như AC. Nielsen, Boston Consulting Group (Mỹ), người tiêu dùng ở các thành phố lớn của Việt Nam đang ngày một giàu lên. Nhóm nghiên cứu của Boston Consulting ước tính, tầng lớp trung lưu tại Việt Nam sẽ đạt 30 triệu người trong năm 2020, và sẽ tiếp tục gia tăng với mức thu nhập bình quân của một người trong nhóm trung lưu tối thiểu là 714 USD/tháng. Khi người tiêu dùng giàu lên và sống tại các khu vực đô thị, họ sẽ mong muốn được trải nghiệm những dịch vụ, sản phẩm ngày một chất lượng, tốt cho sức khoẻ, các chuyên gia gọi hành vi tâm lý tiêu dùng này là tâm lý “nâng tầm cuộc sống”. AC Nielsen cũng công bố trong Nghiên cứu đánh giá xu hướng thị trường Việt Nam năm 2018, có 74% người tiêu dùng Việt Nam cho rằng mình có khả năng chi xài thoải mái và sẵn sàng mua khi cảm thấy thích.

 Với đặc tính và hành vi kể trên, người tiêu dùng thành thị ở Việt Nam ngày càng trở nên “thông minh” và “khó tính” hơn trong các chi tiêu cho các nhu cầu về thực phẩm. Các quyết định lựa chọn thực phẩm trong vòng 10 năm trở lại đây đã thay đổi, từ thói quen tiêu dùng tại chợ truyền thống, các gia đình thành thị đang chuyển dần sang thói quen tiêu dùng tại các siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch, cửa hàng tiện ích.

 Xu hướng tiêu dùng thực phẩm hiện đang đi theo 3 hướng: sản phẩm tự nhiên; sản phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; sản phẩm bảo vệ môi trường.

 

  • Xu hướng tiêu dùng thực phẩm tự nhiên, hữu cơ (organic)

 Báo cáo xu hướng tiêu dùng thực phẩm hữu cơ năm 2017 của AC Nielsen chỉ ra rằng, có đến 86% người tiêu dùng thành thị Việt Nam ưu tiên lựa chọn sản phẩm Organic cho những bữa ăn

hàng ngày bởi tính an toàn, giàu dinh dưỡng và hương vị thơm ngon. Gần đây nhất, trong các công bố nghiên cứu về Chỉ số niềm tin người tiêu dùng quý I/2018 của Nielsen, có 37% người tiêu dùng Việt nói rằng sức khoẻ là mối bận tâm lớn nhất của họ. 80% người tiêu dùng cho thấy họ quan tâm sâu sắc đến những tác động lâu dài mà các phụ chất nhân tạo có thể gây ra; 76% người tiêu dùng mong muốn biết rõ chất cấu tạo nên thức ăn họ sử dụng hàng ngày.

 Để đáp ứng xu hướng tiêu dùng này, hiện trên thị trường có hai mô hình sản xuất được công nhận, nhóm doanh nghiệp tư nhân, thực hiện sản xuất hữu cơ theo các bộ tiêu chuẩn Quốc tế (EU, Nhật) sản xuất các sản phẩm hữu cơ để xuất khẩu và bán tại thị trường thành phố. Nhóm nông hộ, tạo mạng lưới liên kết thực hiện sản xuất nông sản hữu cơ theo tiêu chuẩn đảm bảo có sự tham gia (Participatory Guarantee System - PGS), phục vụ thị trường trong nước. Theo báo cáo của Cục Trồng trọt (2017), năm 2016 có 26 cơ sở sản xuất hữu cơ ở 15 tỉnh, thành phố (Lào Cai, Hòa Bình, Hà Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Thái Nguyên, Hà Nội, Hà Nam, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Lâm Đồng, Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau) với tổng diện tích hơn 4.100 ha. Các cây chủ yếu là dừa (3.052,3 ha), chè(538,9 ha), lúa (489,8 ha) vàrau (94,1 ha).

 Các doanh nghiệp và các nhóm nông hộ vẫn đang gặp khó khăn trong quá trình phát triển thị trường nông nghiệp hữu cơ do Việt Nam chưa ban hành được các quy định về tiêu chuẩn hữu cơ Việt Nam. Đối với các nhóm thực hành theo tiêu chuẩn PGS, thị trường chỉ dừng lại ở các cửa hàng thực phẩm sạch, chưa tham gia được vào các siêu thị lớn do thiếu chứng nhận về tiêu chuẩn chất lượng được phê duyệt của nhà nước. Các doanh nghiệp lớn lại đối đầu với những chi phí đầu tư để áp dụng theo các bộ tiêu chuẩn hữu cơ quốc tế, dẫn đến giá thành cao, nhiều doanh nhiệp chọn chiến lược chỉ phát triển thị trường xuất khẩu. Do vậy, thị trường nội địa cho thực phẩm hữu cơ còn đối mặt với nhiều thách thức.

 Ngày 29/08/2018, chính phủ ban hành Nghị định 109/2018-NĐ-CP về bộ tiêu chuẩn nông nghiệp hữu cơ Việt Nam. Nghị định này sẽ mở ra cơ hội mới cho các doanh nghiệp, HTX, nhóm sản xuất tham gia vào thị trường nông nghiệp hữu cơ.

 Xu hướng tiêu dùng thực phẩm đạt tiêu chuẩn an toàn

 Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Quản lý Nguy cơ an toàn thực phẩm (ATTP) tại Việt Nam (Worldbank 2017), người dân ngày càng tăng mối quan tâm và nỗi lo về ATTP bởi số các

vụ việc vi phạm ATTP xảy ra ngày càng nghiêm trọng. Người dân có xu thế dùng sản phẩm nông nghiệp an toàn ngày càng tăng. Vì vậy, dòng sản phẩm nông sản nào đảm bảo ATTP sẽ có khả năng trụ vững trên thị trường. Nếu không, khi các hiệp định thương mại mới ra đời, việc kinh doanh sản phẩm nông nghiệp trên thị trường quốc tế sẽ trở nên cạnh tranh hơn (Worldbank 2017).

 Khác với các dòng thực phẩm hữu cơ, thực phẩm đảm bảo vệ sinh an toàn được phép sử dụng các loại phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình canh tác. Tuy nhiên, khi lưu thông trên thị trường, sản phẩm nông nghiệp sản xuất theo tiêu chuẩn an toàn cần có thời gian cách ly, đảm bảo các chất tồn dư trong thực phẩm không gây hại cho sức khoẻ.

 Sản xuất thực phẩm an toàn đang áp dụng theo trên bộ tiêu chuẩn VietGap. Các doanh nghiệp sản xuất thực phẩm an toàn hướng tới sản xuất trên quy mô lớn, sản lượng nhiều, họ có tệp khách hàng rộng hơn so với thực phẩm hữu cơ bởi sự canh tranh về giá thành, sản lượng, mẫu mã. Bên cạnh chứng nhận VietGap, đối với các nhóm nông hộ, việc sản xuất thực phẩm an toàn được chính quyền địa phương xác nhận bằng Giấy chứng nhận cơ sở sản xuất đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.

 Xu hướng tiêu dùng hướng tới các sản phẩm bảo vệ môi trường

 Tiêu dùng xanh là việc mua và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường, không gây hại cho sức khỏe con người và không đe dọa hệ sinh thái tự nhiên. Trên thế giới, các doanh nghiệp, tập đoàn lớn đều xây dựng các chiến lược phát triển sản phẩm xanh gắn liền với trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, coi đây như một lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.

 Tại Việt Nam, ý thức của người dùng trong các thành phố lớn gần đây cũng nâng cao rõ rệt, họ lựa chọn các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên nhiều hơn và đặc biệt những sản phẩm có Nhãn xanh Việt Nam (theo Thông tư số 41/2013/TT-BTNMT) luôn được ưu ái và được trả giá cao hơn. Khảo sát của Nielsen Việt Nam (2017) cho thấy có tới khoảng 80% người tiêu dùng Việt Nam sẵn sàng chi trả nhiều hơn để mua các sản phẩm có nguyên liệu đảm bảo thân thiện với môi trường và 79% người dân sẵn sàng trả thêm tiền để mua sản phẩm không chứa các nguyên liệu mà họ không mong muốn.

Nhà nước đã ban hành Nghị định số 19/2015/NĐ-CP về những ưu đãi dành cho doanh nghiệp có mục tiêu phát triển xanh, theo đó, doanh nghiệp có thể được miễn hoặc giảm tiền thuê đất. Được vay vốn ưu đãi với lãi suất ưu đãi tối đa không quá 50% mức lãi suất tín dụng đầu tư của Nhà nước do cơ quan có thẩm quyền công bố tại thời điểm cho vay, tổng mức vay vốn không quá 70% tổng mức đầu tư xây dựng công trình; được ưu tiên hỗ trợ sau đầu tư hoặc bảo lãnh vay vốn. Theo quy định tại Điều 13, Điều 14 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (2008, 2013) thì thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong BVMT sẽ áp dụng thuế suất 10% trong thời gian 15 năm và được miễn thuế tối đa không quá 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp tối đa không quá 9 năm tiếp theo. Bên cạnh những ưu đãi, Nghị định 19/2015/NĐ-CP cũng đưa ra những hướng dẫn chi tiết cho doanh nghiệp về việc làm thế nào để được công nhận là doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh bảo vệ môi trường. Tại Điều 3, khoản 9, nghị định 19 chỉ rõ “sản phẩm thân thiện với môi trường là sản phẩm đáp ứng các tiêu chí nhãn sinh thái và được chứng nhận nhãn sinh thái”. Theo định nghĩa này, một sản phẩm được xác định là sản phẩm thân thiện với môi trường khi đáp ứng các tiêu chí nhãn sinh thái và được chứng nhận nhãn sinh thái. Theo Điều 1, Thông tư số 41/2013/TT - BTNMT ngày 2/12/2013 quy định trình tự, thủ tục, chứng nhận nhãn sinh thái cho sản phẩm thân thiện với môi trường (Thông tư số 41/2013/TT-BTNMT) thìnhãn sinh thái gắn cho các sản phẩm thân thiện với môi trường được gọi là Nhãn xanh Việt Nam.

 Có thể thấy, tín hiệu từ thị trường, người tiêu dùng và những hỗ trợ pháp lý của nhà nước dành cho những doanh nghiệp phát triển theo xu hướng sản xuất xanh đang là một cơ hội tốt cho các quyết định đầu tư của doanh nghiệp.

 3.1.2.  Mối quan tâm của người tiêu dùng đối với NSBĐ và ĐSĐP

 Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, khách hàng ưa thích mua thực phẩm được sản xuất tại Việt Nam (89,1%) hơn là hàng nhập khẩu. Nông sản bản địa và đặc sản địa phương là sản phẩm được khách hàng tin dùng nhiều nhất so với các dòng nông sản khác hiện có trên thị trường. Đa số (93,9%) người tiêu dùng NSBĐ và ĐSĐP cho biết họ sẽ chọn sản phẩm nông sản bản địa thay vì các nông sản có nguồn giống lai hoặc biến đổi gen (Biểu đồ 1).

 Bieu do 1

Yếu tố về tiêu chuẩn chất lượng được đặt lên hàng đầu trong các mối quan tâm của khách hàng khi chọn mua NSBĐ/ĐSĐP. Nghiên cứu tìm hiểu tính triết lý mà khách hàng mang theo khi mua sản phẩm NSBĐ và ĐSĐP. Tuy nhiên, chỉ khoảng một phần ba người tiêu dùng NSBĐ cho biết họ tìm mua NSBĐ và ĐSĐP với ý nghĩa ‘ủng hộ phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số’ (32,9%) và ‘duy trì nguồn gen bản địa’ (26,6%). Trên thực tế, chất lượng sản phẩm (‘vị ngon/đậm đà) là yếu

tố cốt lõi khiến họ chọn mua sản phẩm NSBĐ và ĐSĐP (76,4%) (Biểu đồ 3). Khách hàng cũng cảm thấy tin tưởng vào  sản  phẩm  NSBĐ, ĐSĐP

hơn cho việc đáp ứng các tiêu chí về thực phẩm ngon và tốt cho sức khoẻ.

Kết quả khảo sát về mức độ hài lòng của người tiêu dùng đối với chất lượng sản phẩm NSBĐ đã từng sử dụng trong 12 tháng qua cho thấy tỉ lệ khách hàng cảm thấy ‘hài lòng’ rất cao. Gần 90% người tiêu dùng ‘hài lòng’ về chất lượng của Gạo Séng Cù và Nếp Khẩu Nua Lếch. Với các sản phẩm còn lại như Gạo Tám Điện Biên, Miến dong Bắc Kạn, cam bưởi và thực phẩm, tỉ lệ khách hàng hài lòng đạt mức 80%.

Ví dụ 1

 

 Bieu do2

 -           Tiêu chuẩn chất lượng hữu cơ và vệ sinh an toàn thực phẩm là hai tiêu chuẩn khách hàng mong muốn có được ở các sản phẩm NSBĐ, ĐSĐP. Có 51,8% khách hàng được hỏi

mong muốn sản phẩm mang tiêu chuẩn hữu cơ; 48,2% khách được hỏi mong muốn sản phẩm đạt chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm.

 3.1.1.  Chân dung khách hàng

 Người tiêu dùng các sản phẩm nông sản bản địa/đặc sản địa phương là nhóm khách hàng thu nhập tầm trung trở lên, có trình độ đại học và hiện là công chức nhà nước và người làm kinh doanh. Phần đông số họ có sở thích đi du lịch và nấu ăn.

Chân dung khách hàng của NSBĐ được xây dựng dựa trên các số liệu phân tích từ các phỏng vấn 300 khách hàng đang tiêu dùng sản phẩm ở các siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch, chợ. Các phân tích đặc điểm của khách hàng mục tiêu được nghiên cứu nhằm hỗ trợ xây dựng các gợi ý cho nhóm sản xuất, nhóm doanh nghiệp thương mại trong các hoạt động lên kế hoạch sản xuất và kinh doanh NSBĐ. Các cơ quan chính sách có thể tham khảo để đưa ra các quyết định hỗ trợ xây dựng thương hiệu đặc sản địa phương gần gũi với nhu cầu của người tiêu dùng.

 Giới tính: 82,4% người tiêu dùng tham gia trả lời khảo sát là phụ nữ, 17,6% là nam giới.

Tuổi: Nhóm khách hàng thuộc độ tuổi 30-49 là đối tượng chính (44,1%) tiêu thụ sản phẩm NSBĐ/ĐSĐP.

Trình độ học vấn: Trình độ học vấn là một biến độc lập trong các phân tích tiếp theo liên quan đến đánh giá và nhu cẩu của người tiêu dùng về sản phẩm NSBĐ/ĐSĐP. Tại Hà Nội và hai tỉnh Yên Bái & Bắc Kạn, số người tiêu dùng có trình độ đại học chiếm tỉ lệ cao nhất (54%), tiếp đó là có trình độ cấp III (15,9%) và cấp II (10,5%). Xem chi tiết trong Biểu đồ 3 – Trình độ học vấn cuả người trả lời.

 bieu do 3

 

 Tình trạng hôn nhân: Tình trạng hôn nhân là một trong những chỉ số có thể ảnh hưởng tới nhận định của khách hàng đối với sản phẩm NSBĐ/ĐSĐP. Tổng mẫu có 251 người (chiếm 79,9%) đã kết hôn. 52,2% trong số họ có 2 con, 17,6% có 1 con, 10,5% có 3 con trở lên. Có 21.1% tổng số người trả lời có con dưới 5 tuổi.

Tình trạng kinh tế và việc làm: Bên cạnh tình trạng hôn nhân và trình độ học vấn, tình trạng kinh tế và việc làm cũng được coi như những yếu tố góp phần ảnh hưởng tới quan điểm và thái độ của người tiêu dùng về sản phẩm NSBĐ/ĐSĐP mà họ từng mua & sử dụng. Về nghề nghiệp, hai nhóm người tiêu dùng chiếm tỉ lệ cao nhất là các công chức nhà nước (23,4%) và người làm kinh doanh (20,6%). Tiếp đó, những người đã nghỉ hưu (14,2%), cán bộ tại các tổ chức tư nhân/phi chính phủ (10,1%) và người ở nhà làm việc nhà (9,8%) cũng là nhóm khách hàng chính tiêu thụ các sản phẩm NSBĐ (Biểu đồ 4. Cơ cấu việc làm).

bieu do 4

Phần đông người tiêu dùng NSBĐ/ĐSĐP có thu nhập tầm trung trở lên (34,6% có mức thu    nhập 10-20 triệu/tháng). Ngoài ra, nhóm có thu nhập trên 20 triệu/tháng chiếm 22,6%, và 18,4% thuộc nhóm có thu nhập 5-10 triệu/tháng (Biểu đồ 5 -Thu nhập bình quân hàng tháng)

Bieu do 5

 

Quy mô gia đình: 70,9% sống trong hộ gia đình có 4 người trở xuống

Nhà ở: Tỉ lệ người tiêu dùng hiện đang ở nhà chung cư và nhà đất là tương đương nhau (43,4% và52,2%) .

 

Về sở thích, số khách hàng ‘thích đi du lịch’ chiếm tỉ lệ đông nhất (221 người, tương ứng 70,8%). Nhóm sở thích tiếp theo là ‘nấu ăn’ (50%), ‘đi bộ’ (35,5%), ‘nghe nhạc’, ‘chơi thể thao’ và ‘xem bóng đá’ (32,7%, 24% và 13,8%).

3.2.   Phân tích 4P cho sản phẩm

 3.2.1.  Các yếu tố về sản phẩm

 Các yếu tố liên quan đến chất lượng sản phẩm từ khâu sản xuất đến tay người tiêu dùng như  đặc tính giống, quy mô sản xuất hay chất lượng, mẫu mà kể cả bao bì sản phẩm đều được xem xét trong nghiên cứu này . Các khảo sát được tiến hành trực tiếp từ người sản xuất đến doanh nghiệp kinh doanh cũng như người tiêu dùng sản phẩm bản địa.

  Đặc điểm sản xuất và quy mô sản xuất

 Các giống cây trồng vật nuôi bản địa thường có năng suất thấp hơn và chu kỳ sinh trưởng thường kéo dài hơn so với các giống mới đặc biệt là các giống lúa (Nếp gà gáy 5 tháng, Khẩu nua lếch 5 tháng). Giống này thường mang đặc trưng của từng vùng và khó mở rộng quy mô sản xuất ví dụ như các giống Nếp tú Lệ của Văn Chấn; Khẩu nua lếch của Bắc Kạn chỉ trồng được 1 vụ mùa trong năm và rất khó tăng diện tích canh tác. Các hộ tham gia vào hợp tác xã thì có quy mô lớn hơn so với các nhóm hộ không tham gia vào hợp tác xã nhưng số lượng các hộ thành viên của hợp tác xã thì không nhiều, trung bình mỗi hợp tác xã khoảng trên dưới 20 thành viên.

bang4

 

Chất lượng sản phẩm:

Các sản phẩm bản địa thường có ưu điểm về mặt chất lượng do đặc tính của giống. Đây là một lợi thế để cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại khá trên thị trương. Đây là Yếu tố quan trọng nhất khiến người tiêu dùng chọn mua NSBĐ/ĐSĐP trong 12 tháng qua là do ‘vị ngon/đậm đà hơn’ so với các sản phẩm cùng loại trên thị trường (86,4% số người chọn). Thứ hai, vì ‘giống bản địa - an toàn cho sức khỏe’ nên có khoảng 20% số người trả lời cho rằng đây cũng là ưu điểm nổi trội của sản phẩm NSBĐ/ĐSĐP. Các yếu tố còn lại ít được chú ý hơn, bao gồm ‘có giá trị dinh dưỡng cao hơn’, ‘có quy trình sản xuất an toàn hơn’ (khoảng 10%) (Biểu đồ 6).

 Bieu đồ 6

Các cuộc phỏng vấn trực tiếp với chủ doanh nghiệp, chủ cửa hàng, siêu thị tại Hà Nội cũng cho thấy, chất lượng ngon khác biệt của NSBĐ, ĐSĐP là yếu tố số 1 khiến doanh nghiệp quyết định lựa chọn sản phẩm vào danh mục các hàng hoá sẽ nhập bán tại cửa hàng. Có 10/11 đại diện doanh nghiệp được phỏng vấn khẳng định họ chọn hợp tác với các đơn vị sản xuất nông sản  bản địa, đặc sản địa phương vì “vị ngon khác biệt, không thể thay thế” của các nông sản bản địa, đặc sản địa phương so với các nông sản khác trên thị trường. Tuy nhiên, hạn chế của NSBĐ là việc duy trì vị ngon của sản phẩm một cách ổn định. Tại các điểm bán lẻ, khó khăn người chủ kinh doanh phải đối diện liên quan đến chất lượng không đồng đều có khi là mất “uy tín” với khách hàng 

Nguyên nhân là do n gười sản xuất vẫn sản xuất một cách tự do, chưa theo một tiêu chuẩn chất lượng nhất định nên dẫn đến chất lượng sản phẩm chưa đồng đều. Một số sản phẩm có nguy cơ bị suy thoái và giám chât lượng sản phẩm do việc áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất rất hạn chế và người dân tự để giống. Việc mở rộng diện tích tràn lan cũng có thể làm giảm chất lượng. Đặc biệt là trong chăn nuôi theo phương thức truyền thống, dẫn đến thiếu sự đồng đều và phân hóa chất lượng sản phẩm.

Việc áp dụng các biện pháp canh tác, sơ chế, chế biến khác nhau cũng ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Ví dụ tại Bắc Kạn, khi phơi thóc (Khẩu nua lếch), phơi thóc trên những tấm đan  hoặc bạt thì chất lượng gạo ngon hơn so với phơi trực tiếp trên sân gạch và sân xi măng. Phơi trên tấm đan hoặc bạt thì gạo ít bị gẫy và dẻo hơn so với phơi trên xi măng. Hiện nay có 30% số hộ còn phơi trên tấm đan và bạt, còn lại 70% phơi trực tiếp trên sân.

Những chương trình hỗ trợ từ chính sách nhà nước cần chú trọng đến việc hỗ trợ các hộ nông dân áp dụng các bộ tiêu chuẩn chất lượng cụ thể vào quy trình sản xuất và tuân thủ theo đúng quy trình từ khâu chọn giống, trồng cấy, chăn nuôi đến khâu thu hoạch, đóng gói, vận chuyển.

  • Bao bì sản phẩm

Nghiên cứu thu thập thông tin dựa trên hai yếu tố (i) Mong đợi của khách hàng về thông tin trên bao bì sản phẩm (ii) Mức độ hài lòng của khách hàng đối với thông tin trên bao bì của các sản

phẩm NSBĐ và ĐSĐP hiện đang có trên thị trường. Nhóm nghiên cứu mong muốn, thông qua những phản hồi từ khách hàng, các đơn vị sản xuất NSBĐ, ĐSĐP sẽ có những cải tiến phù hợp hơn cho sản phẩm của họ. Thông tin thu thập được cụ thể như sau:

(i)    Những thông tin khách hàng cần có trên bao bì sản phẩm: trên 75% người tiêu dùng cho rằng bao bì sản phẩm nên có thông tin về ‘nguồn gốc sản phẩm’, ‘nơi sản xuất’ và ‘thời hạn sử dụng’ (lần lượt là 86,2%, 65,5% và 58,6%). Tiếp đến, khoảng 30% khách hàng nhận thấy các yếu tố như ‘hướng dẫn sử dụng’ và ‘thành phần dinh dưỡng’ cũng cần được nêu trên bao bì Trên thực tế, theo quan sát của người sử dụng, hầu hết các sản phẩm NSBĐ/ĐSĐP họ mua chỉ đáp ứng được yêu cầu thông tin về ‘nguồn gốc sản phẩm’ hoặc ‘thời gian sử dụng’ (đối với miến, gạo). Còn lại, thông tin về ‘thành phần dinh dưỡng’, ‘hướng dẫn sử dụng’ và thời hạn sử dụng (đặc biệt đối với bưởi và cam) rất ít được nhắc tới (Biểu đồ 7).

 Biểu đồ 7

 

(i)      Tỉ lệ khách hàng hài lòng về mẫu mã bao bì của các sản phẩm NSBĐ/ĐSĐP chưa cao (trung bình 37,8%). Trong đó, các nhóm sản phẩm có tỷ lệ khách hàng hài lòng cao nhất về mẫu mã bao bì là miến dong Bắc Kạn (57,5%) và Gạo Tám Điện Biên (45.8); Ba sản phẩm như Cam Văn Chấn, Cam Cao Phong và Thịt lợn Mán có tỉ lệ người tiêu dùng hài lòng thấp nhất. Tỉ lệ không hài lòng về bao bì của 3 sản phẩm này khoảng 7,5%- 11,6% (Bảng 7).

bảng 5

Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng ghi nhận những phản hồi từ các chủ cửa hàng, chủ siêu thị, các hợp tác xã đứng ra bao tiêu NSBĐ, ĐSĐP về bao bì, và chất lượng

Tin bài liên quan