TABA 104 B C8 Quỳnh Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội

contact@northwest.com.vn

034 738 0008 - 0983 217 438

Nghiên cứu này được thực hiện trong khuôn kh ổ dự án “Tăng cường khả năng tiếp cận thông tin cho phụ nữ dân tộc thiểu số (I2I)” do Liên minh Châu âu tài trợ thông qua CARE Đức. Nghiên c ứu do Trung tâm Nghiên c ứu phát tri ển Nông lâm nghi ệp miền núi (ADC) - chủ tịch Mạng lưới NorthNet, chủ trìth ực hiện cùng v ới sự tham gia của các t ổ chức thành viên m ạng

lưới NorthNet (Mạng lưới các t ổ chức phi chính phủ khu vực miền núi phía B ắc làm việc vì sự phát tri ển của cộng đồng dân t ộc thiểu số, bao gồm: Trung tâm TABA đơn vị phụ trách các

hoạt động nghiên c ứu thị trường tại Hà N ội; CECAD, CCD, DECEN, Vietbac CSC, CARTEN, SUDECOM, Yenbai CDSH các đơn vị thực hiện khảo sát thông tin t ại các t ỉnh Hoà Bình, Cao Bằng, Yên Bái, Phú Th ọ). Nhóm nghiên cứu xin được cảm ơn sự cảm ơn sự tham gia của các thành viên m ạng NorthNet cùng sự tư vấn về kỹ thuật của Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam.

TÓM TẮT

 

Nông sản bản địa, đặc sản địa phương (NSBĐ, ĐSĐP) đang thu hút sự quan tâm ngày càng lớn của người tiêu dùng và do đó mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho vùng dân tộc thiểu số  góp  phần xoá đói giảm nghèo và làm giàu. Nghiên c ứu phân tích ti ềm năng phát triển các nông s ản bản địa và đặc sản địa phương khu vực miền núi phía B ắc  góp  ph ần cải thiện sinh kế cho phụ nữ dân t ộc thiểu số. Kết quả nghiên cứu cho thấy nông sản bản địa và đặc sản địa phương là sản phẩm được khách hàng tin dùng nhiều nhất so với các dòng nông sản khác hiện bán trên thị trường. Khách hàng tiêu dùng NSBĐ, ĐSĐP cho rằng, giá bán sản phẩm hiện nay rất “dễ thở” so với chất lượng sản phẩm có “vị ngon đậm đà, khác biệt” của các NSBĐ, ĐSĐP. Việc phát triển các sản phẩm NSBĐ, ĐSĐP có thể sẽ góp phần giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người tham gia vào chuỗi giá trị, cải thiện thu nhập cho phụ nữ cũng như hộ gia đình DTTS,  góp phần bảo tồn nguồn gen cây trồng bản địa, bảo tồn giá trị văn hoá và tiếng nói của người  địa phương. Tuy nhiên , việc phát triển các NSBĐ và ĐSĐP vẫn còn nhiều hạn chế chưa đáp  ứng nhu cầu và yêu cầu của thị trường (sản lượng; chất lượng; bao bì nhãn mác, các chương trình khuyến mại, kênh phân phối...). Tại vùng sản xuất, nhiều giống bản địa đang bị thoái hoá và năng suất thấp, chất lượng hạn chế do chưa chú trọng đến áp dụng khoa học kỹ thuật trong phục tráng giống và canh tác. Đa số các hộ sản xuất nông sản bản địa là sản xuất với quy mô nhỏ, người sản xuất thì thiếu sự đầu tư vào thâm canh tăng năng suất sản lượng của nông sản bản địa và hiệu quả chưa cao. Người sản xuất đặc biệt là phụ nữ thì thiếu kiến thức kỹ thuật và thông tin thị trường, không có năng lực đàm phán với các thương lái để nâng cao hiệu quả kinh tế. Ngoài ra phụ nữ cũng ít được tham gia các khóa đào tạo và nâng cao năng lực cũng như tìm kiếm thông tin thị trường là nguyên nhân dẫn đến sự thiếu bình đẳng trong việc phân công lao động tại gia đình. Việc phát triển đang đi theo hướng tăng diện tích sản lượng mà ít quan tâm đến cải thiện giá trị gia tăng của sản phẩm. Giá tiêu thụ một số sản phẩm nông sản bản địa đặc biệt là cây ăn quả có múi đang có su thế bị giảm sút do việc phát triển ồ ạt không có quy hoạch vùng sản xuất hợp lý cũng như thiếu nguồn giống đảm bảo chất lượng. Các khoảng trống kể  trên dẫn đến hiện trạng, người sản xuất có thu nhập từ NSBĐ, ĐSĐP không cao, giá bán tại vùng thấp. Các đơn vị phân phối bán lẻ (siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch, công ty thương mại) chưa mặn mà với NSBĐ, ĐSĐP do tỷ lệ lãi suất từ các sản phẩm này không cao. Nghiên cứu cũng cho thấy, các chính sách hỗ trợ của nhà nước và địa phương chưa tạo ra động lực và cơ  chế thuận lợi để phát triển các NSBĐ và ĐSĐP. Hiện nay chưa có chính sách ưu tiên phát triển

Các NSBĐ và ĐSĐP. Thiếu vắng các liên kết giữa các bên liên quan để phát triển sản phẩm NSBĐ, ĐSĐP theo chuỗi nhằm tăng tính cạnh tranh cho NSBĐ, ĐSĐP trên thị trường.

 Một số khuyến nghị

 Quy hoạch các vùng sản xuất NSBĐ/ĐSĐP ưu tiên theo nâng cao giá trị gia tăng và  chất lượng sản phẩm, hơn là số lượng.

    • Hỗ trợ địa phương bảo hộ sở hữu trí tuệ và thực thi việc bảo hộ trí tuệ (nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý,..)
    • Hướng dẫn phát triển mô hình HTX, nâng cao năng lực quản trị để vận hành HTX hiệu quả.
      • Nâng cao năng lực cho người sản xuất và tổ nhóm, HTX sản xuất từ quy trình tiêu chuẩn đến phát triển sản phẩm.
      • Có chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp, HTX để quảng bá, giới thiệu các sản phẩm bản địa và đặc sản địa phương tiếp cận với thị trường ví dụ như (chính sách vay vốn cho HTX, chính sách tham gia hội chợ nông sản…).
      • Các doanh nghiệp (HTX) cần xác định khách hàng mục tiêu để có chiến lược kinh  doanh và quảng bá sản phẩm phù hợp.
      • Các doanh nghiệp (HTX) chú trọng thiết kế bao bì sản phẩm và các thông tin trên sản phẩm nêu rõ về nguồn gốc và lịch sử giống.
        • Tiếp cận thị trường qua kênh trọng điểm là siêu thị và cửa hàng thực phẩm sạch, phát huy kênh bán hàng tiềm năng qua mạng.

 

1.  Đặt vấn đề

 

1.1.   Giới thiệu chung về nghiên c ứu

 

Nông sản bản địa, đặc sản địa phương (NSBĐ, ĐSĐP) đang thu hút sự quan tâm ngày càng lớn của người tiêu dùng và do đó mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho vùng dân tộc thiểu số. Người tiêu dùng ngày càng chú trọng tới vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm nên có xu hướng chọn nông sản an toàn. Hiện nay, đang có 4 xu hướng lựa chọn thực phẩm phổ biến đó là: Tự nhiên, an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và bao bì thông minh. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới về Quản lý Nguy cơ an toàn thực phẩm (ATTP) tại Việt Nam (Worldbank 2017), người dân ngày càng tăng mối quan tâm và nỗi lo về ATTP bởi số các vụ việc vi phạm ATTP xảy ra ngày càng nghiêm trọng. Người dân có xu thế dùng sản phẩm nông nghiệp an toàn ngày càng tăng. Vì vậy, dòng sản phẩm nông sản nào đảm bảo ATTP sẽ có khả năng trụ vững trên  thị trường. Nếu không, khi các hiệp định thương mại mới ra đời, việc kinh doanh sản phẩm nông nghiệp trên thị trường quốc tế sẽ trở nên cạnh tranh hơn (Worldbank 2017). Công ty Nielsen ước tính, giá trị tổng thị trường hữu cơ tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh là khoảng 400 tỷ đồng/năm. Theo kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu và Phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam, từ năm 2008, Việt Nam đã có trên 40 mặt hàng đạt tiêu chí  chỉ dẫn địa lý quốc gia, 750 mặt hàng đặc sản khác nhau đã đem lại thu nhập, việc làm cho hơn 10 triệu lao động (Viện Nghiên cứu và Phát triển ngành nghề nông thôn Việt Nam, 2008).

Trên thế giới không có khái niệm đồng nhất về các sản phẩm đặc sản. Giới chuyên môn và các nhà nghiên cứu sử dụng các thuật ngữ khác nhau để nói về các đặc sản bản địa: sản phẩm địa phương, sản phẩm nguồn gốc xuất xứ, đặc sản (Lưu Đức Thanh, 2018). Trong nghiên cứu này, các nông sản bản địa là các loại sản phẩm nông nghiệp của cộng đồng tồn tại lâu đời tại địa phương, được các cộng đồng duy trì phát triển và bảo tồn trên các trang trại và không phải sản phẩm tạo giống từ các trường đại học hay viện nghiên cứu ví du gạo nếp Tú lệ, Khẩu nua lếch. Đặc sản địa phương là những sản phẩm có uy tín, chất lượng gắn với tên của vùng miền hay địa phương nào đó. Một số nông sản bản địa là đặc sản địa phương như Bưởi Đại Minh (Yên Bái), Bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), Gà Lạc thuỷ (Hoà Bình). Một số đặc sản địa phương là nông sản bản địa như Nếp Tú lệ, Khẩu nua lếch nhưng một số đặc sản có thể không phải là nông sản bản địa mà là giống thuần, đã thích nghi với địa phương, có chất lượng tốt và có uy tín như gạo Séng cù, gạo tám Điện Biên.

 

Tại khu vực miền núi phía Bắc, nơi sinh sống của 30 nhóm dân tộc khác nhau, mỗi dân tộc đều có các đặc trưng riêng về đời sống văn hóa tạo nên sự đa dạng về văn hóa, sinh kế của phụ nữ dân tộc thiểu số (DTTS) phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp, trong đó có nông sản bản địa. Hiện nay chính phủ đang có nhiều chương trình chính sách hỗ trợ người dân tộc thiểu số phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên một trong những lợi thế quan trọng của khu vực miền núi là các NSBĐ và ĐSĐP vẫn chưa được khai thác hiệu quả do nhiều nguyên nhân trong đó người sản xuất, người tiêu dung và doanh nghiệp thiếu thông tin về thị trường, vùng nguyên liệu và hành vi người tiêu dùng (Bộ NN& PTNT, 2011). Để hỗ trợ các chương trình này thực hiện một cách hiệu quả hơn nữa thì việc cung cấp thông tin từ các nghiên cứu đánh giá là rất quan trọng (OECD, 2015). Trên cơ sở đó, NorthNet thực hiện nghiên cứu về tiềm năng phát triển NSBĐ và ĐSĐP khu vực miền núi phía Bắc là rất cần thiết trong khuôn khổ dự án I2I do EU tài trợ dưới sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam.

 

1.2.   Mục đích nghiên cứu

 

-          Cung cấp thông tin cho cơ quan quản lý, tổ chức phát triển, chính quyền địa phương, người sản xuất, nhà hoạch định chính sách về vai trò, tiềm năng, hạn chế và giải pháp phát triển nông sản bản địa nhằm cải thiện sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt là phụ nữ dân tộc thiểu số.

-          Cung cấp thông tin dữ liệu cho các tổ chức thành viên mạng lưới NorthNet và các doanh nghiệp xã hội kinh doanh nông nghiệp làm cơ sở cho lập kế hoạch phát triển tổ chức

-          Thúc đẩy mô hình phát triển kinh tế dựa vào tri thức bản địa và bảo tồn nguồn gen trên trang trại

 

1.3.   Mục tiêu nghiên c ứu

 

-          Xác định nhu cầu của người tiêu dùng vàphân tích th    ị trường nông s ản bản địa và đặc sản địa phương.

-          Phân tích hi ện trạng sản xuất nông s ản bản địa và đặc sản địa phương tại các vùng s ản xuất.

-          Phân tích những thuân lợi và hạn chế về chính sách hỗ trợ của nhà nước và địa phương trong phát triển các nông sản bản địa hiện nay

 

-          Đề xuất được các giải pháp và mô hình phát triển các nông sản bản địa trở thành sinh kế cho người phụ nữ DTTS

 

2.  Phương pháp Nghiên c ứu

2.1.   Đối tượng và địa bàn nghiên c ứu

2.1.1.  Địa bàn nghiên c ứu:

 

Nghiên cứu được thực hiện tại 5 tỉnh miền núi phía Bắc bao gồm Bắc Kạn, Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình và Điện Biên, trong đó, mỗi sản phẩm được khảo sát thực trạng sản xuất tại 2 xã và khảo sát thị trường tiêu thụ địa phương tại trung tâm huyện và thành phố của tỉnh đó. Những tỉnh thành này được chọn để thực hiện khảo sát bởi đây là những tỉnh có số lượng và sản lượng các sản phẩm khảo sát nhiều hoặc có điều kiện thuận lợi để thúc đẩy phát triển sản phẩm. Ngoài ra, thành phố Hà Nội, không phải nơi sản xuất các sản phẩm NSBĐ và ĐSĐP nhưng Hà Nội là thị trường tiêu thụ lớn các sản phẩm này nên đựơc lựa chọn để đánh giá nhu cầu tiêu dùng và phân tích hiện trạng thị trường sản phẩm. Việc lựa chọn xã được quyết  định bởi  sự tham vấn  với các thành viên mạng lưới NorthNet, chính quyền địa phương, cán bộ CARE.

 

2.1.2.  Đối tượng nghiên c ứu

 

Nghiên cứu được tiến hành và thu thập thông tin từ nhiều nhóm đối tượng khác nhau để có cái nhìn tổng thể về thực trạng sản xuất cũng như thị trường tiêu thụ nông sản bản địa và đặc sản địa phương. Căn cứ vào mục tiêu và nội dung nghiên cứu, các đối tượng tham gia được lựa chọn có chủ đích để thực hiện khảo sát và thu thập thông tin. Đối tượng phỏng vấn và khảo sát thị trường bao gồm có người tiêu dùng, người kinh doanh tại Hà nội, tỉnh Yên Bái và Bắc Kạn. Đối tượng phỏng vấn về chính sách bao gồm các nhà lập sách là người quản lý, lãnh đạo tại một số huyện và sở ban ngành như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở khoa học và công nghệ tỉnh Bắc Kạn, Yên Bái, Hoà Bình, Điện Biên và Phú Thọ. Đối tượng phỏng vấn về hiện trạng sản xuất bao gồm có nông dân, các hợp tác xã và tổ hợp tác tại các tỉnh thực hiện nghiên cứu.

-                     Người dân trực tiếp sản xuất nông sản bản địa bao gồm các hộ sản xuất quy mô lớn, nhỏ và trung bình (có cả nam và nữ). Các hộ được lựa chọn dựa trên sự tham vấn của địa phương.

 

-                     Hợp tác xã: Đại diện lãnh đạo của các hợp tác xã sản xuất nông sản bản địa và các đại diện xã viên của hợp tác xã.

 

-                     Lãnh đạo địa phương và cán bộ các cơ quan chuyên môn là người có hiểu biết về chính sách cũng như các thông tin liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp và thị trường.

 

-                     Chủ doanh nghiệp, cửa hàng, siêu thị, và thương lái là những người đang kinh doanh, chế biến các sản phẩm từ nông sản bản địa.

 

-                     Khách hàng tiêu thụ nông sản bản địa: Là những người từng mua các mặt hàng nông sản bản địa, những thành viên này được lựa chọn ngẫu nhiên và phỏng vấn khi họ tời mua hàng tại các cửa hàng kinh doanh đặc sản địa phương.

 

2.1.3.  Các nông sản nghiên cứu

 

Các nông sản bản địa và đặc sản địa phương trong nghiên cứu này bao gồm: Miến dong (Dong diềng), Gà ri (Bắc Kạn), Bưởi Đoan Hùng, Nếp gà gáy (Phú Thọ), Bưởi Đại Minh, Cam Văn Chấn, Gạo Séng cù (Yên Bái), Bưởi đỏ Tân lạc (Hoà Bình), Gạo Tám thơm (Điện Biên). Việc lựa chọn các sản phẩm liên quan đến địa bàn nghiên cứu để huy động sự tham gia của các thành viên mạng lưới NorthNet. Đây là những NSBĐ và ĐSĐP chủ yếu tại các tỉnh thực hiện nghiên cứu, có diện tích và sản lượng có thể sản xuất hàng hoá. Việc lựa chọn dựa trên thu thập thông tin cơ bản về sản phẩm và tham vấn với các tổ chức thành viên NorthNet.

 

2.2.   Nội dung nghiên c ứu và các ch ỉ tiêu thu th ập thông tin

2.2.1.    Phân tích hiện trạng sản xuất các NSBĐ và ĐSĐP

Các thông tin thu thập bao gồm diện tích, năng suất, sản lượng, tiềm năng, cơ hội, thách thức của sản xuất.

2.2.2.  Phân tích các chính sách hỗ trợ sản xuất các NSBĐ và ĐSĐP

Các thông tin thu thập bao gồm chính sách hỗ trợ phát triển nông sản bản địa và đặc sản địa phương, các tồn tại và hạn chế của chính sách.

2.2.3.  Phân tích tiềm năng thị trường đối với các NSBĐ và ĐSĐP

Các thông tin thu thập bao gồm mức độ tiêu thụ của sản phẩm, đánh giá của khách hàng, giá bán.

 

2.3.   Cách ti ếp cận và các k ỹ thuật thu thập thông tin

Đối với các thông tin thứ cấp, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập và nghiên cứu các tài liệu liên quan bao gồm:

 

-          Báo cáo nghiên cứu về các sản phẩm bản địa của ADC, các thành viên mạng lưới NORTHNET và các tổ chức khác.

-          Báo cáo phân tích chuỗi giá trị nông sản; Báo cáo kinh tế xã hội của các tỉnh trong địa bàn nghiên cứu và các vùng dự án của các tổ chức thành viên mạng lưới NORTHNET thông qua mạng lưới NORTHNET.

-          Sử dụng công cụ tìm kiếm Google với các từ khóa “ngành hàng nông sản bản địa”, “chuỗi giá trị sản phẩm bản địa”, “đặc sản địa phương” và tổng hợp thông tin từ các trang web của Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Tổng Cục Thống kê, Ủy Ban Dân tộc…

Đối với các thông tin sơ cấp: phương pháp tiếp cận có sự tham gia được áp dụng để thu thập thông tin đối với các nhóm đối tượng khác nhau. Kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được thực hiện với người sản xuất, cán bộ lãnh đạo địa phương và các cơ quan chuyên m ôn cũng như hợp tác xã và doanh nghiệp. Kỹ thuật phỏng vấn bảng hỏi bán cấu trúc được thực hiện với người tiêu dùng, khách hàng tiêu thụ nông sản bản địa và đặc sản địa phương.

-          Bộ câu hỏi nghiên cứu thị trường được xây dựng dựa trên lý thuyết 4Ps, bao gồm các yếu tố: Sản phẩm (Product), Giá ( Price), điểm bán (Place); Quảng cáo, tiếp thị (Promotion) (Philip Kotler) [2]. Ngoài ra, chúng tôi cũng đưa thêm P thứ 5 - con người (People) vào bộ câu hỏi nhằm khai thác sâu hơn các yếu tố về nhân sự của các doanh nghiệp khi triển khai sản xuất, kinh doanh NSBĐ.

 

2.4.   Nhóm nghiên cứu

 

Nghiên cứu huy động sự tham gia của các thành viên mạng lưới NorthNet trong hỗ trợ, thực hiện thu thập thông tin sơ cấp và thứ cấp. Các thành viên mạng lưới Northnet, là những người đang làm việc trong các tổ chức thành viên của mạng lưới và có kinh nghiệm cũng như am hiểu về các công cụ điều tra cũng như am hiểu về cộng đồng. Họ trực tiếp tham gia vào thực hiện nghiên cứu và hỗ trợ nhóm nghiên cứu thu thập thông tin tại thực địa. Tổng số 18 cán bộ của các tổ chức NorthNet đã tham gia vào nghiên cứu này. Nhóm nghiên cứu chính là cán bộ trung

 

tâm Nghiên cứu phát triển nông lâm nghiệp miền núi (ADC) và Trung tâm Hợp tác và phát triển Tây bắc xây dựng đề cương và bộ câu hỏi nghiên cứu với sự tham gia tư vấn của cán bộ Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam. Các cán bộ nghiên cứu của các tổ chức thành viên mạng lưới NorthNet được tập huấn về công cụ nghiên cứu trước khi thực hiện thu thập thông tin.

 

2.5.   Quy trình thực địa

 

2.5.1.  Phân tích thực trạng sản xuất

 

Tại mỗi địa bàn nghiên cứu, thực hiện một cuộc thảo luận với nhóm hộ sản xuất các sản phẩm được lựa chọn với sự tham gia của khoảng 9 nam/nữ nông dân mục tiêu (3 nông dân sản xuất ở quy mô lớn, 3 nông dân sản xuất ở quy mô vừa và 3 nông dân sản xuất ở quy mô nhỏ), một cuộc thảo luận nhóm các xã viên HTX sản xuất với 6 xã viên bao gồm cả nam và nữ. Tại mỗi xã, Nhóm nghiên cứu đã đi thăm hộ và PVS ba hộ sản xuất (quy mô lớn, vừa và nhỏ). Việc lựa chọn đối tượng và nông dân tham gia thảo luận nhóm và PVS do cán bộ xã tham gia nhóm nghiên cứu thực hiện dựa trên quan sát và kinh nghiệm của riêng họ đảm bảo có được người sản xuất ở những quy mô khác nhau và có đại diện hộ nghèo, hộ DTTS, cả nam giới và phụ nữ. Bên cạnh đó nhóm nghiên cứu cũng thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với nhóm cán bộ, lãnh đạo địa phương bao gồm cả trưởng thôn để có cái nhìn tổng thể hơn về mặt sản xuất, tiêu thụ cũng như chính sách phát triển sản phẩm đặc sản bản địa tại địa phương.

 

Bảng 1. Đối tượng cung cấp thông tin tại các tỉnh

 

STT

Địa điểm

Tổng số

(người)

Nam (người)

Nữ (người)

1

Bắc Kạn

21

10

11

2

Phú Thọ

19

11

8

3

Yên Bái

37

20

17

4

Hòa Bình

15

7

8

5

Điện Biên

8

5

3

 

Tổng

100

53

47

 

2.5.2.  Phân tích chínhsách   

 

Phân tích chính sách được thực hiện với các cán bộ quản lý, lãnh đạo ngành như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Khoa học và Công nghệ, Phòng Nông nghiệp, Trung tâm khuyên nông, Phòng kinh tế, Uỷ ban nhân dân huyện tại các tỉnh thực hiện nghiên cứu. Mục

 

tiêu là tìm hiểu về các chính sách hỗ trợ phát triển NSBĐ và ĐSĐP, các tồn tại hạn chế và các đề xuất.

 

2.5.3.  Phân tích thị trường

 

Có 315 phiếu khảo sát được thực hiện với người tiêu dùng tại thành phố Hà Nội, 2 tỉnh Yên Bái, Bắc Kan.

 

Mục đích của việc khảo sát t ại các ch ợ trung tâm huy ện và t ỉnh là nh ằm thu thập và phân tích thông tin c ủa các tác nhân kinh doanh liên quan trong chu ỗi như: nhà cung cấp đầu vào (gi ống, phân bón, BVTV) cho s ản xuất, nhà thu mua và kinh doanh các s ản phẩm khảo  sát  (thu mua/bán buôn/bán l ẻ, chế biến các s ản phẩm chuối, bán l ẻ các s ản phẩm được lựa chọn nghiên cứu), các cơ quan quản lý nhà nước và cung c ấp dịch vụ công (NN&PTNT, Khuy ến nông). Việc lựa chọn địa điểm và đối tượng khảo sát c ụ thể dựa trên thông tin thu th ập được từ khảo  sát t ại các xã (nh ững tác nhân có ho ạt động hợp tác, kinh doanh, mua bán v ới người nông dân, thu gom ở xã/huy ện), dựa trên vai trò và nhi ệm vụ có liên quan (cơ quan nhà nước), dựa trên quan sát vàkinh nghi ệm của các thành viên nghiên c ứu.

 

Người tiêu dùng bất kỳ được hỏi các câu hỏi sàng lọc về một số nông sản bản địa mà họ từng nghe hoặc mua. Điều tra viên chỉ tiếp tục phỏng vấn khách hàng bộ câu hỏi chi tiết nếu họ từng mua ít nhất một sản phẩm nông sản bản địa, đặc sản trong 12 tháng gần đây (tính từ tháng 7/2017- 7/2018). Mức thời gian 12 tháng đảm bảo tất cả các sản phẩm NSBĐ và ĐSBĐ được nêu đều được bán ra trên thị trường vào tất cả các mùa vụ trong một năm. Có 349 người tham gia trả lời phiếu sàng lọc, trong đó khảo sát nhu cầu được thực hiện với tổng số 315 người đạt tiêu chí nói trên. Chia theo địa bàn, tại 6 quận khu vực Hà Nội có 265 đáp viên (chiếm 84,1%) và 2 tỉnh Yên Bái & Bắc Kạn có 49 người (chiếm 15,9%). Tỉ lệ người trả lời chia theo địa điểm bán NSBĐ tương đối đồng đều: 32,9% người tiêu dùng được hỏi tại siêu thị, 26,3% tại cửa hàng thực phẩm an toàn dạng chuỗi như Bác Tôm & EFarm, 31,3% tại các cửa hàng lẻ và 9,5% còn lại tham gia trả lời khi đang đi chợ (Bảng 2).

 

Bảng 2. Kích thước mẫu và địa điểm khảo sát

 

Địa bàn khảo sát

Loại hình, kênh phân phối

Số      người trả lời

Tỉ lệ

Tổng (%)

Siêu thị

Fivimart

Nam Từ Liêm

56

17,7

32,9

Citimart

Thanh Xuân

48

15,2

Cửa      hàng chuỗi

Bác Tôm

Hai Bà Trưng

37

11,7

26,3

Efarm

Thanh Xuân

46

14,6

Cửa hàng lẻ

Ông Mai

Hoàng Mai

30

9,5

31,3

Đồng Quê

Cầu Giấy

14

4,5

Hòa Bình -

FarmFood

Hà Đông

35

11,2

Mai Hùng & Nguyễn Thị Nga (tỉnh Yên Bái)

19

6,1

Chợ tại Bắc Kạn

Chợ Bắc Kạn và Đức Xuân

30

9,5

9,5

Tổng

 

 

315

 

100

             
  • Phương pháp phỏng vấn sâu và quan sát tại điểm bán thực phẩm, nông sản.

 

Nghiên cứu đã thực hiện 11 cuộc phỏng vấn sâu với đối tượng là đại diện các chủ doanh nghiệp, người quản lý tại các siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch, công ty phân phối, trong đó bao gồm 4 cuộc phỏng vấn sâu tại Hà Nội, 2 cuộc tại Bắc Kạn, 5 cuộc tại Yên Bái. Các phỏng vấn sâu được thực hiện nhằm tìm hiểu rõ hơn nhu cầu, mong đợi từ các doanh nghiệp đang tham gia  vào các hoạt động phân phối, bán lẻ sản phẩm NSBĐ ra thị trường cấp tỉnh và cấp quốc gia.

 

Hoạt động quan sát về hành vi người tiêu dùng và sự hiện diện của các NSBĐ tại các điểm bán (ví dụ vị trí bầy bán, bao bì nhãn mác có đủ thông tin và hấp dẫn, các hoạt động quảng cáo và khuyến mại...) được các Quan sát viên là những người có kiến thức và kinh nghiệm về marketing thực hiện trên 7 điểm bán hàng (6 điểm tại Hà Nội, 1 điểm tại Bắc Kạn, 2 điểm tại Yên Bái). Cách thức quan sát cụ thể như sau:

 

-   Tại Cửa hàng th ực phẩm sạch: Quan sát viên th ực hiện nhiệm vụ ghi chép t ỉ mỉ, chính xác nh ững diễn biến mua – bán của người tiêu dùng t ại cửa hàng đó trong 1 ngày.

 

-   Tại siêu th ị: Tiến hành ho ạt động quan sát, ghi chép đối chiếu số lượng  đơn hàng có  tiêu dùng các nông s ản bản địa tại 1 quầy thu ngân được định sẵn.

-   Tiến hành ho ạt động so sánh, đối chiếu đánh giá về sự hiện diện của sản phẩm NSBĐ trong tổng thể gian hàng theo b ảng hướng dẫn phía dưới.

 

Danh sách 7 cửa hàng đã được quan sát bao gồm:

 

Bảng 3. Danh sách cửa hảng tiến hành quan sát

 

STT

Địa điểm quan sát

Thời gian quan sát

1

Siêu thị Aeon Citimart

Tầng 1 tòa nhà Golden Palace, 125 Lê Văn Lương, phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội.

Ngày 10/07/2018 (14h – 20h30) Ngày 11/07/2018 (8h30 – 18h30)

2

Cửa hàng Bác Tôm

Số 1 Hoa Lư, phường Lê Đại Hành, Hai Bà Trưng, Hà Nội

Ngày 12/7/2018 - từ 9h30 đến 17h00

3

Cửa hàng Efarm

Tầng 1 tòa nhà Imperia, Nguyễn Huy Tưởng, Quận Thanh Xuân, Hà Nội

Ngày 13/7/2018

(9h- 11h, 15h- 17h30)

4

Cửa hàng Ông Mai

VP5 Linh Đàm, Hoàng Mai, Hà Nội

Ngày 16/7/2018

(10h- 12h, 15h- 18h)

5

Cửa hàng thực phẩm Đồng Quê

(Hà Nội)

Ngày 14/7/2018

(8h30-11h30, 15h-19h)

6

Cửa Hàng thực phẩm Hòa Bình (FarmFood)

Cổng số 8, Chợ Hà Đông, Q. Hà Đông, Hà Nội

Ngày 11/7/2018

(8h30-11h30, 15h-19h)

7

Khu bán gạo tại Vincom plaza Yên Bái

Ngày 17/7/2018

8

Cửa hàng gạo Nguyễn Thị Nga

Yên Bái.

Ngày 16/7/2018

Tin bài liên quan